Có những tập thơ không cần đọc quá nhiều câu, người ta đã nhận ra ngay phía sau con chữ là một con người cụ thể với một giọng nói riêng, một tính cách riêng và cả một vốn sống riêng. Cánh diều và vầng trăng của Bùi Nguyên Tâm là một tập thơ như thế. Thơ anh không đi vào người đọc bằng sự cầu kỳ của kỹ thuật hay những tìm tòi thi pháp phức tạp, mà bằng cái duyên của khẩu ngữ đời thường, bằng tiếng cười hóm hỉnh của một người từng trải và bằng những câu thơ ngắn gọn nhưng phía sau lại chất chứa khá nhiều vui buồn nhân thế.
Đọc tập thơ này, tôi có cảm giác như đang ngồi trong một cuộc trà dư tửu hậu của những người đàn ông Hải Phòng từng trải: vừa nói cười tếu táo, vừa luận chuyện nhân tình thế thái, vừa đùa vui mà cũng vừa đau đáu nhiều điều về tình yêu, gia đình, quê hương, nhân nghĩa và kiếp người. Có những bài thơ chỉ vỏn vẹn hai dòng, thậm chí một cặp lục bát ngắn, nhưng phía sau sự ngắn gọn ấy lại là cả một tầng đời sống, một phông văn hóa dân gian và một vốn trải nghiệm khá dày của tác giả.
Trong phong trào thơ hiện nay, người làm thơ rất nhiều. Nhưng để tạo được một giọng điệu riêng, một cách nói riêng khiến người đọc chỉ cần đọc vài câu đã nhận ra “đó là thơ của ai”, lại không dễ. Đối với tôi, Bùi Nguyên Tâm là một trường hợp như vậy. Thơ anh không lẫn bởi cái duyên khẩu ngữ, chất hóm hỉnh dân gian và kiểu “gài tứ” bất ngờ rất riêng. Nhiều bài thơ của anh giống như những câu nói cửa miệng của đời sống được nâng lên thành thơ, vừa tự nhiên, vừa có độ rung cảm.
Điều gây ấn tượng trước hết ở Cánh diều và vầng trăng là hình thức thơ cực ngắn. Nhiều bài chỉ là một câu lục bát hoặc bốn dòng thơ ngắn ngủi. Nhưng đáng chú ý là trong dung lượng rất hẹp ấy, tác giả vẫn cố tạo ra một “khoảng dư ba” để người đọc nghĩ tiếp, cười tiếp hoặc day dứt tiếp.
Chẳng hạn bài Chân em chỉ có đúng hai câu: “Chân em vừa bước qua đây/
Đường khuya heo hút bỗng đầy trăng sao”. Một hình ảnh rất quen của thơ tình: bước chân người đẹp làm không gian bừng sáng. Nhưng cái thú vị là tác giả không dùng những mỹ từ cầu kỳ. “Đường khuya heo hút” là một không gian rất thực, rất đời, thậm chí có phần quạnh quẽ. Và chỉ bằng sự xuất hiện của “em”, cả không gian ấy lập tức biến đổi. Cái lãng mạn ở đây không kiểu cách mà tự nhiên như một phản ứng cảm xúc bản năng.
Hay bài Không em: “Có em anh có cả trời/ Không em như cánh bèo trôi vật vờ”. Cấu trúc đối lập “có em” và “không em” rất quen trong thơ tình, nhưng hình ảnh “cánh bèo trôi vật vờ” lại mang chất dân gian, gần gũi và gợi một nỗi cô đơn rất đàn ông. Đó là kiểu thơ đọc lên tưởng nhẹ tênh nhưng lại có một khoảng buồn chìm bên dưới.
Ở nhiều bài khác, Bùi Nguyên Tâm tỏ ra khá có duyên trong việc tạo “cú chốt” bất ngờ. Bài Thuyền chìm là một ví dụ: “Thuyền không với mảnh trăng non
Chở thêm gái có một con thuyền chìm”. Câu thơ đùa mà không chỉ để đùa. Nó vừa có chất tếu táo của đời sống dân gian, vừa thấp thoáng tâm lý đàn ông, vừa mang chút nghịch ngợm của một người từng trải. Đặc biệt, cụm từ “gái có một con” xuất hiện nhiều lần trong tập thơ như một mô típ riêng của tác giả. Đó không còn đơn thuần là đối tượng tình yêu, mà là hình tượng của người phụ nữ từng trải, đằm hơn, sâu hơn, thực hơn những rung động non trẻ.
Có thể nói, một trong những nét hấp dẫn nhất của thơ Bùi Nguyên Tâm là chất dân gian và khẩu ngữ đời sống. Nhiều bài thơ đọc lên có cảm giác như ca dao hiện đại, như tiếng nói đời thường của những người lao động vùng duyên hải Bắc Bộ. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc của làng quê và sinh hoạt dân gian: cánh diều, sáo, trăng, cải ngồng, bến đò, lúa đồng, con cò, ngã ba, ngã bảy…
Trong bài Biết yêu, tác giả viết: “Biết yêu bay bổng cánh diều/ Biết yêu tránh được chín chiều bão giông/ Biết yêu đánh thức dòng sông/ Chở phù sa tưới cánh đồng lúa non”. Ở đây, tình yêu không chỉ là cảm xúc đôi lứa mà đã được mở rộng thành một năng lượng sống, một sức mạnh nhân văn có khả năng “đánh thức dòng sông”, “tưới cánh đồng lúa non”. Cách diễn đạt mộc mạc nhưng chứa bên trong một quan niệm sống tích cực và giàu tính cộng đồng.
Nhiều bài thơ của anh mang đậm chất tiếu lâm dân gian. Nhưng điều đáng nói là cái “tếu” ấy phần lớn không dung tục mà có duyên, có độ tiết chế vừa phải. Bài Ghen viết: “Ai ơi ghen quá có nên/ Làm gì để họ phải ghen lại mình”. Một cách “bẻ lái” rất đời. Từ tâm lý ghen tuông, bài thơ chuyển sang một kiểu tự trào hóm hỉnh. Tiếng cười ấy không ác ý mà nhẹ nhõm, giúp thơ gần với sinh hoạt đời thường.
Hay trong Có người: “Có người trời phú đào hoa/ Mở bao la khóa chỉ qua mỗi chìa”. Cách dùng hình ảnh “ổ khóa – chìa khóa” vừa dân dã, vừa mang tính ẩn dụ giới tính khá táo bạo nhưng vẫn giữ được sự hóm hỉnh chứ không phản cảm. Đây là một dạng “tục mà thanh” vốn là truyền thống lâu đời của văn học dân gian Việt Nam.
Ẩn dưới những tiếng cười và những câu thơ tưởng như chỉ để vui ấy, thực ra lại là một người viết khá nhiều suy tư về nhân tình thế thái. Ở tuổi xế chiều, thơ Bùi Nguyên Tâm thường trực một cảm thức thời gian, một ý thức về hữu hạn đời người.
Bài Có ôm viết: “Có ôm cả trái đất này/ Đến khi ngừng thở trắng tay về trời”. Hai câu thơ giản dị nhưng chứa một triết lý rất cổ điển của phương Đông: mọi tham vọng vật chất cuối cùng đều trở về hư vô. Vì thế, điều còn lại đáng quý hơn chính là tình người: “Nên khi còn sống trên đời/ Hãy như ong bướm chẳng rời được hoa”.
Ở nhiều bài khác, tác giả cho thấy sự day dứt với những biến động của đời sống hiện đại, sự xuống cấp đạo đức hay những bi kịch gia đình. Ở Bài ca muôn thuở khá sắc sảo khi chạm vào câu chuyện tranh giành, phân biệt đối xử giữa con cái khi cha mẹ đau yếu: “Mẹ cha nằm viện dài ngày/ Lộ ngay tính nết đứa này, đứa kia/ Nhất là đất cát ăn chia/ Lại còn mẹ quý phía kia, đằng này”. Cái hay ở đây là tác giả không lên giọng đạo đức hay phán xét. Anh chỉ kể rất thật. Nhưng chính sự thật ấy tạo nên sức nặng và gây ám ảnh với người đọc.
Tập thơ cũng có nhiều bài viết về mẹ cha, quê hương và chiến tranh với giọng điệu lắng hơn. Bài Còn mẹ chỉ hai câu: “Mẹ còn – còn lửa trong nhà/ Mẹ đi bếp lạnh con ra đứng đường”. Đây là một trong những câu thơ hay của tập, theo đánh giá và cảm nhận của tôi. Hình ảnh “lửa trong nhà” và “bếp lạnh” mang tính biểu tượng mạnh. Mẹ không chỉ là người sinh thành mà còn là trung tâm tinh thần của mỗi gia đình. Hay bài Con ơi: “Bố con là lính chiến trường/ Trở về chằng chịt vết thương trên người”. Không bi lụy, không kể công, chỉ một câu thơ thôi cũng đủ gợi cho ta nhớ về, nghĩ về cả một thế hệ đi qua chiến tranh.
Là người đọc nhiều và gắn bó với đời sống văn nghệ Hải Phòng, tôi nhận ra trong thơ Bùi Nguyên Tâm có một chất Hải Phòng khá rõ: bộc trực, ngang tàng, thích đùa, thích nói thẳng nhưng sống tình nghĩa. Ngay cả khi viết thơ tình, anh cũng không quá kiểu cách mà rất đậm chất “Đất Cảng”: “Thích em tính nết Hải Phòng/ Dáng như dải lụa dòng sông quê nhà”. Hay: “Ai ơi khát vợ, đói chồng/ Lượn ngay về đất Hải Phòng biển ru”. Câu thơ vui mà vẫn mang niềm tự hào rất tự nhiên về vùng đất của mình.
Tất nhiên, nhìn từ yêu cầu nghệ thuật, tập thơ vẫn còn những điểm có thể tiếp tục tiết chế và nâng cao. Viết nhiều thơ cực ngắn dễ tạo cảm giác lặp mô típ hoặc ý đến nhanh hơn chiều sâu cảm xúc. Một số bài còn thiên về “ý vui”, giống một câu nói có vần hơn là một bài thơ thực sự có cấu tứ, hàm ý và sự sáng tạo về nghệ thuật. Đôi chỗ tác giả sử dụng khá nhiều lại những hình ảnh quen thuộc như trăng, sáo, cánh diều, cải ngồng, bến đò… khiến cảm hứng có những lúc bị trùng lặp. Tuy nhiên, điều đáng quý là Bùi Nguyên Tâm không cố làm khác mình. Anh giữ được một giọng điệu riêng, một cách nói riêng và một tinh thần riêng. Trong đời sống thơ ca phong trào hiện nay, tôi nghĩ đó là một dấu ấn, một giá trị không dễ có.
Đọc Cánh diều và vầng trăng, tôi có cảm giác đây không chỉ là một tập thơ, mà còn là nhật ký tâm trạng của một người đàn ông đã đi qua gần hết những vui buồn nhân thế. Có lúc cười cợt, có lúc đa tình, có lúc triết lý, có lúc cô đơn, có lúc buông bỏ… nhưng phía sau tất cả vẫn là một tấm lòng yêu đời, yêu người và yêu thơ đến tận cùng. Có lẽ vì thế mà thơ anh, dù ngắn, vẫn chở được một đời dài.
Đ.T.T