Đêm trăng sông Luộc – Truyện ngắn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Chiều cuối xuân xuống rất nhanh. Ánh nắng nhạt hiếm hoi vừa le lói trên ngọn cau, ngọn xoan trước nhà đã vội vã vụt tắt, nhường chỗ cho sương khói âm u. Tiếng dế ri ri bắt đầu vang hơn ở góc vườn. Khí lạnh còn sót lại của tiết xuân tàn vẫn lẩn quất trong không gian.

Nguyễn Bỉnh Khiêm áo mũ chỉnh tề, bước ra con ngõ nhỏ. Từ sáng, nhạc phụ của ông đã cho người nhắn mời con rể tối nay sang thưởng trà. Có một người quen thân của cụ mới từ mạn ngược về, mang biếu ít trà ngon. Sẵn tiện, cụ mới viết xong hai bài ngũ ngôn tứ tuyệt, muốn con rể cùng ngâm vịnh, bình thơ. Sau những ngày mưa phùn ẩm ướt, không khí cuối xuân khô ráo, ấm áp hơn, lòng người vì thế cũng nhẹ nhõm, vui tươi hơn. Tháng giáp hạt sắp qua. Đó đây, những ruộng ngô sớm đã thu hoạch được. Những luống cà, luống đỗ đang ra quả. Những bưởi, những cam trong vườn đã rụng hết  hoa, chồi ra quả non mơn mởn…

Nguyễn Bỉnh Khiêm thong thả bước trên con đường đất quen thuộc nối hai làng, hai phủ. Nhà ông ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng. Bên kia sông là đất huyện Bình Giang, phủ Thượng Hồng, nơi nhạc phụ của ông, cụ Dương Đức Nhan cư ngụ. Hai làng, hai phủ khác nhau, hai địa danh khác nhau trên địa đồ triều đình, nhưng trong đời sống thường nhật chỉ cách nhau một con sông Luộc hiền hòa. Con sông ấy không rộng, nước không xiết, bến nước quen, cầu gỗ quen, người qua kẻ lại đã thành nếp. Đi từ nhà này sang nhà kia, nếu thong thả, cũng chỉ mất non nửa buổi.

Chính sự gần gũi ấy khiến những cuộc qua lại giữa ông và nhạc phụ từ lâu không mang dáng vẻ khách sáo dù vẫn giữ lễ nghiêm cẩn. Bao năm rồi, mỗi khi trăng đẹp, mỗi khi tiết trời dịu, mỗi khi lòng người cần một chỗ lắng, cụ Dương lại sai người sang nhắn: “Mời con rể tối nay sang uống chén trà, ngắm trăng, bình thơ.” Những lời mời ấy diễn ra đều đặn, lặng lẽ, không ồn ào, nhưng đủ để người ngoài hiểu rằng: cụ Dương trân trọng người con rể này đến mức nào. Cũng phải thôi, con rể cụ nổi tiếng hay chữ, giỏi giang, ai ai cũng biết, đâu đâu cũng tỏ. Tuy chưa một lần Nguyễn Bỉnh Khiêm ra ứng thí ở kỳ thi nào, nhưng tiếng đồn hễ ông đi thi thì cầm chắc đỗ đầu đã vang danh bốn cõi. Chưa đỗ đạt, không chức vụ, chẳng bổng lộc gì, nhưng học trò theo học thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đông vô số. Nhiều người trong đó đã thành danh…

Nhưng dạo gần đây, những lời mời ấy từ phía cụ Dương đã có phần đã thưa thớt hơn. Tuổi cụ đã cao. Những năm gần đây, sức cụ yếu dần, dạo này sự xuống sức ấy lại càng rõ rệt. Mỗi lần sang vấn an nhạc phụ, Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy xót xa thầm khi  nhìn cụ đi lại chậm chạp, những buổi ngồi lâu ngoài hiên dưới trăng không còn nhiều như trước.

Hôm nay, nhận được lời nhắn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đoán trước: đây không chỉ là một cuộc trà nước bình thường như mọi lần nữa. Khí lạnh cuối xuân không thích hợp để một người cao tuổi như nhạc phụ có thể ngồi ngâm nga thơ phú đến khuya. Hôm nay, chắc chắn có điều cụ Dương  muốn tỏ bày. Điều đó là gì? Lòng ông càng lúc càng nặng trĩu ưu tư theo từng bước chân hướng về phía phủ Thượng Hồng. Ông có phần đoán định trước được những điều mà nhạc phụ sẽ nói trong giây lát nữa…

Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ xuống con đường đất dẫn xuống bến sông. Con đường này ông đã đi không biết bao nhiêu lần. Những kỷ niệm miên man nối dài theo mỗi bước chân. Ông đã đi con đường này từ khi còn là cậu học trò trẻ măng, con đường thành thân thuộc khi ông cưới vợ, khi vợ sinh con, khi cha vợ còn khỏe… Mỗi lần sang thăm cha vợ là mỗi lần nghe chuyện đời, chuyện người, chuyện sách vở từ cụ Dương. Người cha vợ ưu thời mẫn thế nhưng có nhiều nỗi niềm riêng giấu kín… Con đường quen đến mức, dù nhắm mắt lại, ông cũng biết khúc nào lồi lõm, khúc nào rợp bóng tre, khúc nào nhìn thấy bãi sông mở ra trước mắt…

Nhưng hôm nay, từng bước chân ông chậm hơn thường lệ.

Ông biết, cuộc gặp sắp tới với cha vợ sẽ không chỉ là trà, là trăng, là thơ, dù những năm qua, những buổi “mời” như thế đã trở thành một phần êm ả trong đời sống tinh thần của ông. Ông đoán được điều cha vợ muốn nói. Chính vì vậy mà tâm tư ông có ít nhiều xáo động. Không phải nỗi buồn. Không phải âu lo mà là những day dứt mơ hồ. Triều đình vừa ban lệnh mở khoa thi vào tháng Tám. Năm  nay là năm Canh Thìn, cả trong dân chúng, cả trong triều đình đều có  niềm tin là một năm đặc biệt, có thế biến hung hóa cát, có thể mưu cầu việc lớn, tu sửa quốc gia. Tin về khoa thi đã lan khắp các phủ, các huyện, lan cả vào những quán nước đầu làng, những lớp học của các thầy đồ. Bao sĩ tử tất bật sửa sang bút nghiên, ôn lại sách vở, chuẩn bị cho một lần đánh cược cả đời mình. Bao giấc mộng đăng khoa đã thắp lên…

Còn ông lại một lần nữa không có động tĩnh gì.

Hằng đêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chong đèn ngồi đọc sách, Vẫn điềm tĩnh dầm ngọn bút lông vào nghiên mực đen nhánh, thận trọng đặt từng nét lên trang giấy dó trước mặt. Như thể ông không hay biết, không để tâm gì đến khoa thi tháng Tám. Trong buồng, tiếng thoi đưa trên khung dệt của vợ ông vẫn nhẫn nại lách cách đến tận khi ngọn đèn trên bàn sách của chồng thôi sáng. Nguyễn Bỉnh Khiêm thầm cảm tạ đất trời đã ban cho mình người vợ tào khang đúng nghĩa hiền thê. Gần hai chục năm làm dâu nhà ông, bà không nề hà công việc, một tay vun vén cửa nhà, thờ chồng, dạy con, giữ đạo. Mỗi một khoa thi được mở, dù chồng điềm nhiên không màng ứng thí, bà vẫn không một lời nhỏ to, không một giây nặng nhẹ. Nguyễn Bỉnh Khiêm biết không phải vợ mình không quan tâm chuyện đèn sách của chồng. Ngay từ khi kết tóc xe tơ với chàng học trò nghèo Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà đã nuôi mơ ước có ngày được thỏa nguyện “võng anh đi trước võng nàng theo sau”. Nhưng nào ngờ mơ ước ấy ngày qua ngày vẫn cứ xa vời như những vì sao trên bầu trời tháng hạ. Vang danh là người học rộng hiểu sâu, làu thông kinh sử, thấu được cả càn khôn  huyền diệu, mà chồng bà mãi vẫn bình chân trước những khoa thi. Không ra ứng thí, làm sao đỗ đạt, thành danh? Tiếng thơm học rộng tài cao vẫn chỉ là danh hão… Nhưng bà vẫn nhu mì, hiền thục, chưa một lần thất lễ với chồng. Chính điều ấy làm Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa thương vừa trọng vợ… Ngay cả cha vợ ông cũng ngầm hiểu con rể chưa mang sức tài thi thố với đời chắc hẳn là lý do riêng. Lý do ấy, cụ tin tuyêt đối, dù không rõ là gì. Cụ Dương chưa từng hỏi gặng, chưa hề thúc ép, có lẽ vì tôn trọng nhân cách và sự trầm tĩnh của con rể. Nhưng sự im lặng ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm biết, không phải là không có nỗi buồn. Không phải là không chứa nhiều day dứt. Nhất là bây giờ, tuổi cụ Dương đã cao, sức đã như ngọn đèn cạn dầu, khô bấc đặt trước gió. Nhìn con gái yêu vẫn ngày đêm tần tảo dệt vải, chăn tằm, chạy chợ, sống một đời thanh bạch, đạm bạc, gánh vác gia đình cùng chồng trong cảnh bần hàn của kẻ sĩ chưa ra làm quan, làm sao cụ không động lòng cho được. Nhất là khi chính cụ lựa chọn Nguyễn Bỉnh Khiêm làm con rể, trao gửi cô con gái sắc nước hương trời, vốn được bao nhà quyền quý đánh tiếng, cậy nhờ mai mối. Cụ trọng tài, trọng đức. Cái tài cái đức ấy, cụ nhìn thấy rất rõ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm từ thuở thiếu thời… Nhưng đã mấy chục năm trôi qua… Ngoài kia, thiên hạ truyền tụng sức học, tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, khen ông chữ nghĩa sâu, lòng dạ sáng, vậy mà năm này qua năm khác, con rể cụ vẫn chỉ là một người dạy học, một kẻ đọc sách bên ruộng vườn…

Những điều ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể không biết. Bởi vậy, bước chân ông càng lúc càng thêm trĩu nặng. Ông bước lên cầu gỗ. Dòng sông Luộc chảy lặng lẽ bên dưới, mặt nước hoàng hôn muộn bảng lảng sương. Ông dừng lại một chút, nhìn dòng sông, rồi bất giác nhớ về lần đầu tiên sang bờ bên kia, năm ấy, cũng theo con đường này, cũng qua bến sông này, để gặp người con gái sau này trở thành vợ ông. Khi ấy, ông còn trẻ. Vợ ông còn là cô thiếu nữ tuổi chớm cập kê, nhan sắc như nụ hoa hàm tiếu. Trao gửi con gái cho ông, ắt hẳn cụ Dương đã nghĩ, đã tin con gái mình về được đúng nơi êm ấm, sẽ chẳng mấy mà vinh hiển, phú quý lâm môn.

Nghĩ đến đó, lòng Nguyễn Bỉnh Khiêm chợt nhói lên. Ông trân trọng cha vợ, không chỉ vì cụ là bậc cao niên, trưởng thượng, mà vì cụ là người đã tin mình khi mình chưa có gì trong tay. Và cũng vì thế, mỗi lần nhìn sang vợ, nhìn dáng người phụ nữ quen gánh gồng đời sống thanh bạch ấy, ông lại thấy trong lòng mình một nỗi day dứt âm thầm. Ông biết, sự lựa chọn của mình không chỉ là lựa chọn cho riêng bản thân.

Gió từ sông thổi lên, mang theo mùi phù sa quen thuộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm bước tiếp, qua hết cầu gỗ, đặt chân lên bờ bên kia. Đã đến đất phủ Thượng Hồng. Mặt trời đã khuất từ lâu. Chút ánh ngày nhợt nhạt cũng tắt hẳn nhường chỗ cho màn đêm xuống rất nhanh. Con đường dẫn vào làng vẫn yên tĩnh như mọi ngày, nhưng trong lòng ông mọi ý nghĩ xáo động hơn, cuộc trò chuyện đêm nay  như đã bắt đầu ngay từ lúc này. Một mảnh trăng đã lơ lửng trên bầu trời tự khi nào. Ánh sáng của nó không đủ soi tỏ  mọi vật dưới dương gian  nhưng cũng giúp Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy lòng có phần dịu lại.

Cụ Dương Đức Nhan đã ngồi sẵn nơi hiên. Dáng người gầy hơn trước, lưng đã hơi còng, mái tóc bạc nhiều, nhưng ánh mắt vẫn sáng và tĩnh, vẫn giữ được vẻ khoan hòa quen thuộc. Dưới ánh trăng, ánh nến, gương mặt người cha ấy hiện lên vừa gần gũi, vừa khiến lòng người đối diện bất giác chùng xuống, như thể chỉ cần nhìn thôi cũng đủ gợi lại cả một quãng đời đã đi qua. Nguyễn Bỉnh Khiêm cung kính cúi đầu chào cha vợ. Cử chỉ ấy, gần hai mươi năm nay, chưa từng thay đổi.

Gần hai mươi năm…

Thời gian trôi nhanh đến mức, đứng trước hiên nhà này, ông bỗng có cảm giác chỉ mới hôm qua mình còn là một chàng nho sinh trẻ, áo vải giản đơn, tay ôm mấy quyển sách cũ, rụt rè bước qua cổng với sự dè dặt rất khẽ của tuổi thanh niên. Con đường từ bến sông vào đây, ông đã đi không biết bao lần, nhưng chưa bao giờ thấy nó ngắn lại. Chỉ có lòng người là mỗi lần đi qua, lại thêm một tầng cảm xúc.

Ngày ấy, ông còn rất trẻ. Tuổi trẻ chưa mang theo những ưu tư nặng nề của thời cuộc, cũng chưa phải cân nhắc những lựa chọn khiến người khác phải chờ đợi. Ông đến ngôi nhà này lần đầu tiên không phải với tư cách con rể, mà chỉ là một kẻ sĩ nghèo được mời đến, sau một cuộc gặp gỡ tưởng như rất tình cờ.

Ông nhớ rõ ngày gặp nàng bên bờ sông. Buổi chiều hôm ấy, nước sông lặng, gió nhẹ. Người con gái gánh nước bước chậm trên bờ, chiếc đòn gánh cong cong theo nhịp bước, nét thanh tú toát ra từ dáng đi, từ ánh mắt trong trẻo, khiến người đối diện khó lòng không ngoái nhìn. Đó không phải thứ sắc đẹp khiến người ta xao động dữ dội, mà là vẻ đẹp khiến lòng người lắng lại, khiến chàng nho sinh nghèo không thể rời mắt… Chính sự bạo dạn ấy đã khiến cô gái bối rối. Chiếc đòn gánh rơi xuống trong một khoảnh khắc xao động tâm can. Cô gái xấu hổ bỏ chạy. Ông cúi nhặt chiếc đòn gánh như một vật làm tin, và trong một phút bột phát rất trẻ, rất thật, đã viết lên đó bốn chữ: Huyền lý hảo cầu (người từ nơi xa đến mong cầu những điều tốt đẹp). Một cử chỉ ngẫu hứng, pha chút ngang tàng của tuổi thanh niên, nhưng cũng chứa đựng cả một tâm thế văn chương kín đáo. Ông không ngờ rằng, chính hành động nhỏ bé ấy lại trở thành khởi đầu cho một mối duyên dài rộng.

Người nhìn thấy rõ điều ấy trước tiên, không phải là nàng, mà là cha nàng. Cụ Dương đọc dòng chữ, mỉm cười, không trách móc, không gặng hỏi. Cụ nhìn thấy trong đó không phải sự cợt nhả của kẻ trẻ tuổi, mà là một cốt cách biết tiết chế, biết dừng đúng lúc, biết trân trọng những điều tốt đẹp ở đời. Và rồi chính cụ là người chủ động tìm gặp, trò chuyện, hỏi han, lắng nghe chàng nho sinh trẻ nói về sách vở, về chí hướng, về cách nhìn đời.

Những cuộc trò chuyện ban đầu ấy không dài, cũng không mang vẻ dò xét nặng nề. Nhưng sau đó, bằng một sự tin cậy vững vàng, cụ Dương đã vun vén mối duyên, trao gửi con gái mình cho một người chưa có gì ngoài chữ nghĩa và nhân cách. Đó là một quyết định không dựa vào danh vị, mà dựa vào niềm tin vào con người.

Nghĩ đến đó, lòng Nguyễn Bỉnh Khiêm chợt mềm lại.

Suốt gần hai mươi năm làm con rể, ông chưa từng quên ân nghĩa ấy. Không chỉ là ân nghĩa gả con, mà là ân nghĩa tin trước khi đời kịp trả lời. Người vợ ông, từ mối duyên đầu đời ấy, đã cùng ông đi qua những năm tháng thanh bạch, lặng lẽ, không một lời than thở. Nàng chấp nhận cảnh bần hàn, chấp nhận sự chờ đợi kéo dài, chấp nhận việc chồng mình nhiều lần đứng ngoài những cơ hội mà người đời cho là hiếm có.

Và cha vợ ông, trong suốt quãng đời ấy, vẫn luôn giữ một khoảng lặng đầy tôn trọng. Cụ không ép, không thúc, không nhắc đi nhắc lại chuyện khoa cử. Chỉ đôi khi, trong ánh mắt già nua kia, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận ra một nỗi lo rất khẽ: lo cho con gái, lo cho cháu ngoại, lo cho chính người con rể mà ông đã đặt trọn niềm tin từ thuở ban đầu.

Giờ đây, dưới mái hiên này, Nguyễn Bỉnh Khiêm bỗng nhận ra thời gian đã đi xa đến thế nào. Người cha vợ năm xưa còn khỏe mạnh, giọng nói chắc và ánh mắt sáng, nay đã thật già. Những cuộc mời trà, ngắm trăng, bình thơ từng diễn ra đều đặn nay đã thưa thớt hẳn. Mỗi lần được mời, ông đều có cảm giác như đang được gọi về để nhạc phụ nói nốt những điều còn để ngỏ.

Ông nhìn quanh gian nhà, từng đồ vật quen thuộc, từng khoảng sáng tối dưới ánh trăng, và thấy lòng mình nhói lên một nỗi thương cảm khó gọi tên. Thương cho tuổi già của cha vợ, thương cho người vợ đã cùng mình lặng lẽ đi qua gần hai mươi năm chờ đợi, và thương cho chính mình, một kẻ sĩ vẫn chưa thể báo đáp trọn vẹn niềm tin đã được trao từ buổi ban đầu.

Chính vì thế, ông hiểu rất rõ cuộc trò chuyện đêm nay sẽ không chỉ là chuyện trà, chuyện trăng, chuyện thơ, chuyện sách. Nó sẽ là cuộc đối thoại giữa hai người đàn ông đã hiểu nhau đủ lâu, một người cha giữ nghiêm lễ giáo và trọng hiền tài; một người con rể kính cẩn, biết ơn, mang trong lòng những điều không thể nói, những điều không vội nói.

Nguyễn Bỉnh Khiêm lặng lẽ ngồi xuống đối diện cha vợ. Ông biết, trong đêm nay, những điều chưa từng được nói đã đến lúc cần được nói ra, chậm rãi, chân thành, và không né tránh.

Cha vợ ông ra hiệu cho gia nhân lui vào trong. Hiên nhà trở nên yên tĩnh. Chỉ còn ánh trăng, ánh nến rất nhẹ trải đều trên nền gạch, tiếng côn trùng rất khẽ ngoài vườn, và mùi trà mới hãm tỏa lên nhẹ nhàng.

Cụ Dương Đức Nhan tự tay rót trà. Động tác chậm, cẩn trọng, như thể mỗi giọt trà đều cần có thời gian để lắng. Ông đặt chén trà đầu tiên về phía con rể, giọng trầm và ấm: Đêm nay trăng xuân nhưng vẫn đủ sáng. Trăng thế này mà không uống trà, không đọc thơ thì uổng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đón chén trà bằng hai tay, cúi đầu. “Trăng sáng là nhờ trời. Trà ngon là nhờ người. Con chỉ là kẻ được hưởng.”

Câu nói nhẹ, nhưng không phải là lời khách sáo. Cụ Dương Đức Nhan nhìn con rể, ánh mắt ánh lên một chút vui vẻ. Cụ hiểu kiểu khiêm nhường ấy không phải để che giấu điều gì, mà là thói quen của người biết đối nhân xử thế, biết mình, biết người.

Hai người ngồi im một lát, để đương trà dậy hơn, để trăng lên cao thêm một chút. Rồi cụ Dương chậm rãi đọc một bài ngũ ngôn tứ tuyệt nói về trăng, về lòng người trước cảnh thanh tĩnh. Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp lời bằng một câu khác, vần điệu ăn khớp, ý tứ kín đáo. Không cần bàn nhiều, hai người hiểu nhau trong cách chọn chữ, cách dùng câu.

Một lúc sau, cụ Dương Đức Nhan đặt chén trà xuống, giọng trầm và khẽ: Con vẫn đọc sách hằng đêm như trước chứ?” Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng khẽ khàng đáp lời như sợ âm thanh làm kinh động đến hương trà, đến từng vệt trăng rất mỏng ở ngoài sân: “Vâng, thưa cha, con vẫn đọc. Có điều, càng đọc nhiều, con lại càng thấy mình biết ít.”

Cụ Dương khẽ mỉm cười: “Người biết ít mà biết mình biết ít chính là người  biết nhiều, hơn người biết ít mà tưởng mình biết nhiều.”

Cụ nhìn lên trăng, rồi nhìn thẳng vào con rể: “Có phải con e ngại mình biết ít nên vẫn ở ẩn chăng? Triều đình vừa ban lệnh mở khoa thi vào tháng Tám, con hẳn đã rõ điều này?”Nguyễn Bỉnh Khiêm im lặng trong chốc lát. Ông đã chuẩn bị cho câu hỏi này từ khi bước chân đi. Nhưng khi nó được nói ra, ông vẫn thấy cần thêm một nhịp lặng để sắp xếp lời.

“Thưa vâng, con đã biết,” ông đáp. “Mấy hôm nay, đâu đâu cũng bàn tán chuyện này. Kẻ mừng, người lo. Kẻ quyết tâm, người còn lưỡng lự… Khoa cử bao giờ cũng là mối quan tâm của mọi nhà, kể cả những người không theo đòi nghiên bút, thưa cha.

“Lần này,” cụ Dương Đức Nhan nói tiếp “con có định ra ứng thí không?”

Câu hỏi rơi xuống rất khẽ, nhưng không hề nhẹ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ, rồi đặt xuống. Ông không trả lời ngay. Dưới ánh trăng, gương mặt ông điềm tĩnh, không tránh né, nhưng cũng không vội vã.

“Thưa nhạc phụ,” ông nói chậm rãi, “con biết người đã chờ câu trả lời này rất lâu.”

Cụ Dương Đức Nhan không phủ nhận. Cụ khẽ gật đầu, ánh mắt không giấu được một chút mệt mỏi của tuổi già.

“Con mang danh là người có chữ,” Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp, “mà năm này qua năm khác vẫn chưa ra ứng thí. Con hiểu điều đó khiến nhạc phụ buồn, khiến người ngoài khó hiểu. Con cũng tự vấn bản thân không ít lần.”

Ông cúi đầu thấp hơn một chút, giọng trầm xuống.

“Con xin nhận lỗi vì đến nay vẫn chưa làm được điều gì để gọi là công thành danh toại. Đôi bên cha mẹ mong chờ, vợ con mòn mỏi, mà con vẫn chỉ lưng dài tốn vải. Tuổi đã không còn trẻ, sách đèn đã mấy chục năm…”

Cụ Dương Đức Nhan đưa tay khẽ xua, như muốn ngăn con rể tự trách quá nhiều. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói tiếp, bình tĩnh, không biện hộ.

“Con tạ ơn nhạc phụ, không chỉ là cái ơn thâm sâu của bậc làm cha mẹ, mà còn là cái ơn nhạc phụ đã thấu hiểu cho con, kiên tâm chờ đợi, không hối thúc cũng chưa một lần trách móc. Nhạc phụ đã đặt trọn niềm tin nơi con. Nhưng con hiểu, thời gian nghiệt ngã, nhạc phụ tuổi đã cao, mắt đã mỏi khi ngóng trông cánh chim trời vô vọng… Hôm nay, nhạc phụ cho phép con giãi bày thật lòng…”

“Ta mời con sang đêm nay,” cụ Dương đáp, “chính là để nghe lời thật.”

Nguyễn Bỉnh Khiêm ngước lên. Ánh trăng càng về đêm càng sáng. Đôi mắt ông cũng sáng lên như hai vì sao nhỏ. “Con không sợ thi,” ông nói. “Cũng không coi thường khoa cử. Kẻ đọc sách thánh hiền, ai lại không mong một ngày được đem sở học giúp đời? Nhưng con sợ… ra không đúng lúc. Ra không đúng lúc, không những không giúp gì cho dân cho nước, lại chuốc họa cho thân. Ra không đúng lúc, biết đâu lại đắc tội với đời, với đạo. Con không dám lạm bàn triều chính, con chỉ biết mình chưa chọn được chữ thời. Con nghĩ ở đời không phải cứ đi nhanh là tốt. Quan trọng hơn là đi con đường nào. Có đường đầy hoa thơm nhưng bẫy ngầm giăng phía dưới. Có đường gập ghềnh, trắc trở, chông gai, nhưng vượt được sẽ đến được nơi cần.”

“Không đúng lúc?” cụ Dương nhắc lại, giọng khẽ nhưng chứa điều gì như là thảng thốt.

“Thưa vâng! Con trộm nghĩ ra thi cử đỗ đạt, làm quan không chỉ cần tài, mà cần thời. Thời chưa đến mà gượng ra, thì hoặc phải cúi đầu mà giữ thân, hoặc phải ngẩng đầu mà chuốc họa. Cúi đầu thì mất đạo, ngẩng đầu thì mất thân. Cả hai, con đều không muốn. Soi trong sử sách, cũng đã  nhiều gương…”

Cụ Dương Đức Nhan lặng im. Hai cha con cùng lặng im. Cái lặng im chứa chất nhiều nỗi niềm. Cụ Dương như vỡ ra thêm được nhiều điều trước nay còn chưa tỏ về người con rể mà cụ thương, cụ quý, cụ trọng, cụ coi như tâm giao. Những băn khoăn như đám mây mờ đã bị gió cuốn đi, chỉ còn vẻ sáng trong của vầng trăng tinh khiết. Cụ nghĩ đến những việc triều chính những năm qua. Tuy chỉ sống đời thanh bạch thường dân nơi thôn dã, nhưng những tiếng vọng triều đình không phải không đến tận nơi thôn cùng ngõ hẻm. Bạn bè của cụ, từ kinh thành cho đến làng quê, có dịp gặp gỡ hàn huyên vẫn canh cánh nỗi niềm thế sự. Tiếng dân oán thán triều đình, oán thán nhà vua trẻ ham vui hơn ham việc ngày một nhiều. Triều chính nhiều phen trễ nải. Lời can gián không còn dễ lọt tai. Đời sống dân tình ngày một khó. Những tranh chấp quyền lực ngầm đã có lúc công khai  bùng lên như lửa… Nạn đói xảy ra mấy năm trước vẫn còn những dư âm kinh hoàng. Người chết đói như ngả rạ đầy đường. Những vùng xảy ra binh biến, người dân càng điêu linh, khốn khổ. Mạn Đông Triều, Giáp Sơn của Hải Dương hay Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn của Kinh Bắc dân đã chết đói vãn. Làng mạc xơ xác. Lòng người hoang mang. Nhưng việc nước, việc dân vẫn cần tiếp nối. Không khoa cử, không chọn vời người tài ra giúp nước, thì đến bao giờ nước mới thịnh, dân mới an? Vậy mà người có tài, có chí như con rể cụ, cớ gì vẫn khoanh tay ngồi im như không màng thế sự? Càng trong những lúc rối ren, càng cần phải tỏ sức trai, càng cần gương hào kiệt…

“Con không dám lạm bàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm cân nhắc từng lời, nhưng con thấy chưa phải thời cha ạ. Khi trên không còn vững, thì dưới dù có cố gắng cũng khó đứng thẳng”.

Nguyễn Bỉnh Khiêm dừng lời, nhưng tâm trí vẫn miên man. Biết nói sao về những loạn lạc đương thời. Phận dân đen, không được hở môi những điều hệ trọng. Hoàng đế Lê Chiêu Tông lên ngôi mấy năm về trước trong máu đỏ hoàng cung. Những tranh quyền đoạt chức rối ren khốc liệt khiến loạn lạc nổi lên liên miên hết vùng này qua vùng khác. Vận nước còn chưa yên. Muôn dân còn điêu linh, oán thán. Khoa cử ư? Lập danh, lập nghiệp ư? Hiền tài có đất sống đâu giữa thời thế còn nhiều điên đảo này. Giữ cho tâm còn sáng, lòng còn trong để đợi thời là điều không dễ dàng, càng không thể dễ dàng bộc bạch…

“Vậy con định đợi đến bao giờ?”  cụ Dương Đức Nhan hỏi, giọng vẫn giữ được sự bình thản, nhưng trong đó có nỗi lo không giấu.

Nguyễn Bỉnh Khiêm suy nghĩ một lúc rồi mới đáp: “Con không biết chính xác là bao giờ. Nhưng con biết, đợi không phải là trốn tránh. Con đợi để giữ mình, giữ chữ nghĩa cho trọn. Khi thời đến, con ra, thì lời nói mới còn sức nặng, chữ nghĩa thánh hiền mới được trọng. Nếu nôn nóng, nói điều phải mà không ai nghe, thì khác nào đem ngọc ném xuống bùn.”

“Người đời sẽ nói con kén chọn” cha vợ nói, “sẽ bảo con không trung. Có tài mà không ra giúp vua, giúp nước cũng là bất trung”

Nguyễn Bỉnh Khiêm khẽ mỉm cười: “Thưa cha, con nghĩ lòng trung cao nhất là trung với đạo. Nếu cứ khư khư giữ chữ trung chỉ cho một người cụ thể, bất kể người ấy thế nào, không màng tốt xấu, thì con nghĩ đó là ngu trung. Trung với đạo là giữ lòng ngay thẳng, vì cuộc sống muôn dân, vì giang san xã tắc, đẩy lùi cái xấu, dẹp yên cái ác, không cúi đầu trước cường quyền, không lùi bước trước gian nguy, thử thách. Đó mới là chữ trung đúng đạo ạ. Con không muốn mình trở thành kẻ ngu trung. Trung mà không sáng suốt, thì chỉ làm khổ thêm dân. Con muốn chữ trung của mình phải mang lại điều lành, phải có ích cho đời, cho dân. Mà muốn có ích, không thể cố chấp thưa cha. Ra ứng thí bây giờ để đỗ đạt làm quan, vinh hiển cho một thân con, vinh hiển cho một gia đình, một dòng họ là chuyện không khó. Nhưng vinh hiển để làm gì khi con chưa giúp được gì cho xã tắc, cho muôn dân. Vinh hiển như thế khác gì phường giá áo túi cơm. Con chờ, không phải cho thân con…”

Gió khẽ lay hàng cau. Trăng lên cao hơn, sáng hơn. Một lúc rất lâu, không ai nói gì.

Cuối cùng, cụ Dương Đức Nhan thở nhẹ. “Ta nghe con nói,” cụ chậm rãi, “không thấy sự kiêu ngạo của kẻ cho mình hơn người, mà thấy sự dè dặt của kẻ hiểu mình đang đứng trước điều lớn.”

Cụ nhìn con rể thật lâu, rồi nói tiếp: “Ta gả con gái cho con khi con chưa có gì trong tay, không phải ta coi rẻ con gái mà là ta nhìn thấy ở con chí lớn tài cao, đức trọng. Ta mong con thành danh. Nhưng nếu thành danh mà phải đánh đổi đạo làm người, thành danh mà chịu cảnh luồn cúi hay mang họa về sau thì ta… cũng không màng.”

Nguyễn Bỉnh Khiêm cúi đầu thật sâu. Lòng ông dâng lên một niềm biết ơn khó nói thành lời: “Tạ ơn nhạc phụ thấu hiểu cho con.  Con xin hứa với nhạc phụ con không đợi một cách uổng phí. Con đọc sách, quan sát thời thế, giữ mình mỗi ngày. Khi con thấy thời đã chín, con sẽ không lùi”.

Cụ Dương Đức Nhan gật đầu: “Ta tin con.”

Câu nói ấy, dưới ánh trăng, nhẹ mà nặng.

Hai người lại nâng chén trà. Trà đã nguội, nhưng vị vẫn đậm. Trăng ngoài hiên lặng lẽ soi xuống, như chứng giám cho một lời hứa không cần văn tự.

Cụ Dương Đức Nhan đứng dậy trước, bước chậm vào trong, dáng lưng gầy khuất dần sau cánh cửa gỗ. Nguyễn Bỉnh Khiêm cúi đầu thật sâu, một lần nữa. Không cần lời dặn dò, không cần hứa hẹn thêm, cả hai đều hiểu: có những điều đã nói ra thì không cần lặp lại, có những điều giữ trong lòng lại càng phải giữ cho trọn. Ông bước ra khỏi hiên nhà.

Trăng ngoài sân sáng hơn lúc đến, ánh sáng trải dài xuống con đường đất quen thuộc. Những viên gạch cũ dưới chân hiện lên rõ ràng, như thể thời gian cũng đang soi lại từng dấu bước của một đời người. Nguyễn Bỉnh Khiêm đi chậm. Không phải vì mệt, mà vì ông muốn giữ lại cảm giác vừa có được, một cảm giác nhẹ nhõm nhưng cũng nặng trách nhiệm.

Con đường từ nhà cha vợ ra bến sông, ông đã đi suốt gần hai mươi năm. Mỗi lần đi là một lần khác. Ngày mới cưới, ông đi trong niềm biết ơn. Những năm sau đó, ông đi trong sự yên ổn của đời sống thanh bạch. Và đêm nay, ông đi trong sự tỉnh táo hiếm có của một kẻ sĩ vừa nói xong điều hệ trọng nhất của đời mình.

Sông Luộc hiện ra trước mắt, lặng lẽ và đen thẫm dưới ánh trăng. Mặt nước phẳng như một tấm gương lớn, phản chiếu bầu trời không gợn mây. Không có gió mạnh, không có sóng lớn, chỉ có những gợn nhỏ lan ra khi một cành khô rơi nhẹ xuống mặt nước. Nguyễn Bỉnh Khiêm dừng lại trên cầu gỗ, đứng rất lâu.

Ông nhìn dòng sông như nhìn một ranh giới quen thuộc, ranh giới giữa hai phủ, giữa hai nếp nhà, giữa những lựa chọn đã qua và những lựa chọn còn ở phía trước. Bao năm nay, con sông này vẫn chảy đều, không nhanh, không chậm, không vì ai mà đổi dòng.

Tiếng dế kêu đều đều trong đêm. Từ phía làng xa, vẳng lại tiếng chó sủa lẻ loi. Nguyễn Bỉnh Khiêm bước tiếp qua cầu, mỗi bước chân chắc và chậm. Trong lòng ông không có cảm giác hân hoan, cũng không có nỗi buồn. Chỉ là một sự tĩnh lặng sâu, như mặt sông kia sau biết bao mưa gió vũ vần./.


N.T.V.N

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder