I
Ông Hưng cẩn thận xếp mấy chiếc xe máy thẳng hàng trong khuôn viên văn phòng cảng Greenpost. Khu nhà ba tầng dùng làm văn phòng ngay phía sau cổng cảng đối diện Chùa Vẽ. Nơi nhân viên của các công ty xuất nhập khẩu cả nước tới làm thủ tục xuất nhập cảnh hàng hóa. Ở đây ngoại trừ giám đốc và trưởng phó phòng nghiệp vụ đi ô tô, còn hầu hết nhân viên đến làm việc đi xe máy để trong sân văn phòng. Sáng họ đến, trưa họ về. Đầu giờ chiều đến, cuối giờ chiều về. Họ để xe vào vị trí không theo thứ tự, nên nhân viên bảo vệ ở đây phải loay hoay xếp lại ngay ngắn.
Ông Hưng làm bảo vệ ở trạm này cũng được hơn ba năm từ ngày ông nghỉ chế độ hưu trí. Mọi việc hàng ngày diễn ra như được lập trình sẵn. Ông ít nói, chăm chỉ, khi có chuyện đột xuất xảy ra ông chu đáo giải quyết nhẹ nhàng. Những khách hàng có việc gặp các lãnh đạo của công ty đều hài lòng với cách cư xử của ông. Họ không thấy ông nói to với khách hàng bao giờ, dù họ có đi nhầm chỗ. Ông luôn giúp họ đến đúng nơi họ cần. Công việc ở đây nói nhàn hạ cũng đúng, bởi chủ yếu quan sát và nhắc nhở khách hàng đến làm thủ tục. Lương bảo vệ ở đây không cao, một người về hưu như ông làm thêm để cải thiện cuộc sống gia đình cũng gọi tàm tạm. Những đồng nghiệp làm việc với ông có hoàn cảnh tương tự. Họ trải qua thời gian quân ngũ, xuất ngũ, chuyển ngành làm công nhân rồi về hưu. Ở nhà với con cháu mãi cũng buồn, nộp đơn làm công việc bảo vệ để tăng thu nhập. Cuộc sống vốn có qui luật riêng của nó.
Sáng nay, ông Hưng đi làm như mọi ngày, thay ca vào lúc 5 giờ sáng. Ông pha bình trà nóng thỉnh thoảng nhấp một chút cho tỉnh táo. Vẫn còn sớm, nhân viên thường đến làm việc vào khoảng 8 giờ kém 10 phút. Ông lau dọn phòng bảo vệ sạch sẽ, ngăn nắp. Tính ông thích gọn gàng, đẹp mắt. Một phần do bản tính của ông, dù ở nhà hay nơi làm việc. Một phần khi có người trên Tổng công ty đến thăm phòng bảo vệ, sẽ hài lòng với nhân viên của mình. Nghe nhân viên ở đây nói chuyện, Tổng giám đốc Công ty trước đây là bộ đội chuyển ngành, thời gian đảm nhận chức vụ Tổng giám đốc được 12 năm mới nghỉ hưu. Ông này rất nghiêm khắc trong công việc. Nhân viên dưới quyền ông rất kiêng nể. Uy tín của ông với cấp trên khỏi phải bàn. Hơn chục năm làm lãnh đạo Tổng công ty luôn dẫn đầu về doanh thu. Đối với nhân viên ông là người gần gũi, luôn quan tâm đến từng hoàn cảnh của nhân viên trong Tổng công ty. Khi ông đến tuổi nghỉ hưu mọi người đều luyến tiếc khi chia tay. Họ kính trọng ông, một người hết lòng vì công việc, hết lòng vì nhân viên.
Ánh nắng mặt trời buổi sáng chưa gay gắt, nhân viên văn phòng bắt đầu đến làm việc như thường lệ. Ông nhắc họ để xe vào vị trí, rồi ông quan sát khu vực để ô tô của các lãnh đạo, xem đỗ đúng nơi qui định chưa. Buổi sáng ở đây chưa bao giờ yên tĩnh, ngoại trừ sáng ngày chủ nhật. Tiếng các loại xe ô tô, xe máy va đập vào không gian ồn ào náo nhiệt, phía cầu cảng tiếng xe nâng hàng, xe conternơ gầm gào suốt ngày. Những chiếc cẩu chân đế lặng lẽ nâng cần nhấc conternơ đầy hàng nặng nề lên xuống tàu.
Hơn 11 giờ trưa, ông Hưng lấy cặp lồng cơm ủ nóng mang đi từ sáng để trong ngăn kéo ra dùng bữa trưa. Chưa kịp ăn, một chiếc ô tô 4 chỗ ngồi hiệu Toyota đỗ ngay trước cổng văn phòng. Ông bước ra ý định nhắc tài xế đỗ đúng nơi qui định. Cửa xe mở ra, thằng Nam nhập ngũ với ông một ngày bước xuống:
– Ông Hưng ơi, hôm nay làm ca ngày à. Thảo nào, tôi qua nhà ông thấy đóng cửa mới chạy thẳng đến đây – Nam nói.
– Ông đi đâu mà chạy xe xuống đây. Sao không điện thoại? – Ông Hưng ngạc nhiên.
– Tôi biết ông làm ở đây, xuống gặp và mang cho ông một bất ngờ – Nam nói và mở cửa xe.
Một người đàn ông trên xe bước xuống, dáng đậm người, đeo kính mát, sửa lại quần áo. Nam chỉ người đó nói:
– Ông có nhận ra ai đây không?
– Chưa nhận ra ai cả. – Ông Hưng thực lòng.
– Đây là thủ trưởng Vàng, Đỗ Chí Vàng. Đại đội trưởng đại đội 4 của mình đó, ông chưa nhận ra sao?
Người đàn ông đến sát ông Hưng và gỡ kính ra, nhìn ông Hưng bằng đôi mắt vừa thân quen, vừa nghiêm nghị, ông Hưng reo lên:
– Ôi thủ trưởng Vàng. – Ông Hưng lao đến, dang rộng vòng tay ôm trọn thân hình người đại đội trưởng năm xưa. Chẳng hay tự lúc nào, khóe mắt ông cay xè, ngân ngấn nước. Bốn mươi nhăm năm, hôm nay ông mới gặp lại thủ trưởng cũ của mình. Ngày đó ông là chàng trai mới xấp xỉ mười chín tuổi, lính mới tò te vừa mới trải qua sáu tháng huấn luyện. Ông cùng một số đồng đội được bổ xung vào đại đội 4, đại đội súng máy 12,7 mm, hai lần được tuyên dương đơn vị anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ. Khi đó đại đội trưởng Vàng chỉ huy chuyển sang nhiệm vụ mở đường.
– Đã hơn bốn mươi năm rồi thủ trưởng ạ. Thật bất ngờ,thủ trưởng bây giờ ở đâu mà có thời gian đến thăm lính chúng em vậy? – Ông Hưng hỏi
– Mình ở ngay Hải Phòng này chứ đâu, bên Thủy Nguyên. Bây giờ nghỉ hưu rồi mới rảnh thời gian đi tìm các cậu. – Ông Vàng đưa mắt nhìn lên biển hiệu của công ty rồi nói:
– Đây là công ty con của Tổng công ty tớ.
– Vậy thủ trưởng làm việc ở Tổng công ty này? Ông Hưng ngạc nhiên. Ông Vàng cười đủng đỉnh đáp:
– Tớ làm Tổng giám đốc của Tổng công ty mà công ty này là một chi nhánh, cũng được 12 năm đấy.
Ông Hưng lại càng ngạc nhiên hơn nữa bây giờ mới biết mặt người Tổng giám đốc mà nhân viên ở đây hay nhắc đến. Ông bối rối với nụ cười của cấp dưới.
– Cách đây hơn một năm, mình có gặp và hỏi chuyện mấy anh em ở Hà Nội. Họ nói cậu Nam bây giờ là Trưởng Ban liên lạc bộ đội Trường Sơn Trung đoàn X8 ở Hải Phòng. Họ cho mình số điện thoại của cậu ấy. Mình làm việc trên Tổng ở Hà Nội, bận nhiều việc quá ít về Hải Phòng, chỉ khi có việc xuống chi nhánh hoặc về thăm nhà thôi. Bây giờ nghỉ gần hai năm rồi nên có nhiều thời gian thăm hỏi các cậu.
Nam xen vào:
– Ông Hưng làm việc đến mấy giờ nghỉ?
– Tôi làm tới 17 giờ chiều mới nghỉ. – Ông Hưng ngập ngừng.
– Thôi thế này nhé – Nam tiếp – Trưa nay thủ trưởng nghỉ ở nhà tôi, chiều ông về rồi tính tiếp. Lúc đó thỏa mái chuyện trò. Ông về tới thẳng nhà tôi nhé.
Ông Hưng đang trong giờ làm việc, đành phải gật đâu đồng ý. Hơn nữa thủ trưởng không ở đây nói chuyện lâu được.
– Nam đưa thủ trưởng về nhà nghỉ ngơi, chiều anh em mình gặp lại nhau. – Ông Hưng nắm tay thủ trưởng Vàng nói, trong lòng cảm thấy bồi hồi và nuối tiếc, ông còn phải làm việc. Nam mở cửa xe, thủ trưởng Vàng lên xe, chiếc xe quay đầu và rời đi, ông Hưng đứng nhìn chiếc xe khuất sau ngã rẽ, rồi ông mới chậm rãi quay lại phòng bảo vệ, ký ức đời lính bỗng ùa về…
Buổi chiều tan làm, ông Hưng về nhà tắm qua một chút rồi thay quần áo xách xe chạy thẳng đến nhà Nam. Vợ Nam đang lúi húi nấu gì trong bếp. Mùi thơm của mắm tôm vắt chanh bay lan tỏa trong nhà. Ông Hưng chợt nhớ món lòng non lợn luộc chấm mắm tôm vắt chanh là món ưa thích của thủ trưởng Vàng. Qủa là không sai, vợ Nam lấy chiếc đĩa sứ to thái cỗ lòng non đã nguội. Nam và thủ trưởng Vàng đang ngồi ở bàn uống nước nói chuyện. Không biết hai người nói chuyện gì thỉnh thoảng lại cười. Ông Hưng đi về phía vợ Nam hỏi xem có cần giúp gì không. Vợ Nam cười bảo: – Em làm xong rồi. Hằng – vợ Nam cười nói và bê đĩa lòng vừa thái xong ra bàn, quay lại bảo ông Hưng:
– Anh cầm hộ em đĩa rau thơm ra nhé. – Hưng nhanh tay cầm ra.
– Mời các anh vừa dùng bữa vừa nói chuyện. Hằng sắp mấy cặp bát đũa ra bàn và nói.
Nam cất tiếng với thủ trưởng Vàng và ông Hưng:
– Anh em mình lâu lắm mới gặp lại nhau, hôm nay được đón thủ trưởng sau 45 năm biền biệt tin tức, mình phải uống mừng cuộc hội ngộ bất ngờ này nhé.
Nam rót rượu vào ba chiếc ly thủy tinh và nói:
– Nào anh em mình nâng cốc chúc mừng, cạn…
Từ lúc nâng cạn chén rượu đầu tiên đặt xuống, những câu chuyện nổ như pháo rang giữa ba người. Chuyện trong quân ngũ vẫn là câu chuyện xôm nhất. Những kỷ niệm, những sự kiện được ba người nhắc lại, đôi lúc không khí trầm lắng, lúc thì cười vang khi nhắc đến chuyện tếu hài. Ông Hưng không bao giờ quên được chặng đường mà những người lính đi qua.
II
Chiếc xe zin 3 cầu chở tân binh tiểu đoàn 3 huấn luyện từ thị trấn Cổn, Quảng Bình ngược lên huyện miền núi dãy Trường Sơn, bên kia dãy núi là nước bạn Lào. Ở đó, Trung đoàn X8 sư đoàn Y84 đóng quân, nhiệm vụ mở tuyến đường đi qua xã Xuân Sơn thông sang Lào. Chiếc xe đi một chặng dài hơn 60 km, vượt qua bao dốc, bao ngầm. Cuối cùng đến sân Trung đoàn bộ bên ngầm Dìn Dìn. Xe dừng lại, những anh lính mới ngơ ngác nhìn xung quanh chỉ thấy núi và núi, rừng và rừng. Lúc này khoảng hơn 14 giờ chiều, mây và sương mù đang hạ dần độ cao, bao phủ khu vực đóng quân. Một cán bộ đeo quân hàm thượng úy được lái xe báo cáo, đó là Trưởng ban quân lực trung đoàn. Trưởng ban quân lực nhận danh sách tân binh từ tay đồng chí lái xe liền gọi mấy cán bộ đại đội đến nhận quân. Họ đến từ buổi sáng. Nhóm Hưng gồm tám chiến sĩ được giao cho một cán bộ đại đội 4. Người cán bộ này ăn mặc gọn gàng, đội mũ cối, không đeo quân hàm quân hiệu. Dáng người đậm, cao lớn cầm danh sách hướng dẫn cho chiến sĩ mới xếp hàng ngay ngắn. Sau khi điểm danh từng chiến sĩ, người cán bộ tự giới thiệu:
– Tôi là Đỗ Chí Vàng, cấp bậc trung úy, chức vụ Đại đội trưởng đại đội 4 tiếp nhận các đồng chí về đơn vị. Đại đội chúng ta đóng quân cách Trung đoàn bộ 16 km. Từ đây đến đơn vị, chúng ta hành quân bộ. Đề nghị các đồng chí chuẩn bị hành quân. Các đồng chí có ý kiến gì không?
Hàng quân im lặng, Hưng đứng phía trước quay xuống nói với Nam: – Ông này có vẻ nghiêm khắc đây.
– Cán bộ đại đội mà, nắn gân chiến sĩ mới là chuyện bình thường. – Nam đáp.
– Hai đồng chí kia có ý kiến gì không? Đại đội trưởng nhìn Hưng và Nam hỏi to.
Hưng và Nam giật mình đứng nghiêm: – Báo cáo thủ trưởng, không ạ.
– Không ai có ý kiến gì chúng ta lên đường. – Đại đội trưởng chỉ tay về phía ngọn núi cao nhất nói tiếp: – Các đồng chí có nhìn thấy ngọn núi cao kia không? Cả tám chiến sĩ ngước nhìn lên ngọn núi cao theo hướng tay đại đội trưởng. – Đó là đỉnh núi U Bò, đơn vị ở hướng đó. Chúng ta bắt đầu đi. – Nói xong đại đội trưởng đi trước. Tám chiến sĩ mới nhìn nhau và khoác ba lô bước theo.
Nam ghé tai Hưng: – Hành quân bộ là bình thường phải không ông Hưng? Hưng không đáp, khuôn mặt nhăn nhó, biết Nam khiêu khích mình. Đại đội trưởng đi trước hàng quân, người sau bám sát khỏi lạc. Đây là lối mòn do bộ đội vượt Trường Sơn vào Nam trước đây đi qua mà hình thành, phủ đầy lá cây rừng. Đại đội trưởng ở đây lâu nên quen thuộc. Áng chừng đi được chục kilomet, đại đội trưởng nói vọng lại sau:
– Các đồng chí nghỉ giải lao ít phút. Mọi người “ Ồ” lên thành tiếng. Tiếng ba lô tháo khỏi vai tuột xuống đất loạch xoạch, người thì ngỗi trên ba lô, người thì ngả lưng xuống đất gối đầu lên ba lô không cần biết đất dưới lưng khô hay ướt. Dường như đại đội trưởng hiểu được ý nghĩ trong đầu cánh lính mới, nên giảng giải:
– Các đồng chí có biết tại sao tôi đi rừng nhanh và không sợ lạc không? Cánh lính mới nhìn nhau lắc đầu. Đại đội trưởng tiếp: – Tôi biết các đồng chí cho rằng tôi ở đây lâu quen thuộc vùng này, đấy chỉ là một phần. Đối với những người đi rừng, bất kỳ ai cũng có thể bị lạc trong đại ngàn rừng núi rậm rạp này, kể cả những người đã ở rừng lâu năm. Khi chúng ta ra khỏi nơi quen thuộc, điều đầu tiên bắt buộc phải làm dấu để chúng ta nhận biết đường . Đại đội trưởng chỉ vào cành cây gãy ngang đầu mình: – Đây là dấu buổi sáng tôi đi tới trung đoàn để lại. Khoảng hai ba chục mét, tôi lại bẻ một cành cây nhỏ ngang đầu mình để làm dấu. Bẻ cành cây phía dưới thấp có thể nhầm với cây do người khác đi đạp gãy. Hoặc có con thú lớn đi ngang qua cũng thể làm gãy, nên rất dễ bị lạc.
– Thì ra là như vậy. Thảo nào đại đội trưởng đi nhanh. Hưng nghĩ thầm
– Khi chúng ta đi công tác ra khỏi khu vực đóng quân, chúng ta phải làm dấu để nhận biết khi quay về. – Đại đội trưởng nói tiếp – Chúng ta có nhiều cách làm dấu đường, khắc vào thân cây mình đi qua nếu ta có sẵn dao, hoặc bẻ cành cây như tôi vừa nói.
Những người lính trầm trồ ra vẻ như đã hiểu.
Hết thời gian nghỉ, đại đội trưởng giục mọi người tiếp tục đi, mặt trời khuất dần sau núi, sương rừng bắt đầu xuống. Hàng người cứ lặng lẽ đi, người sau nối người trước. Lúc thì vượt qua dốc, lúc thì lội suối. Theo lời đại đội trưởng thì mùa này là mùa khô nên suối cạn trơ những hòn đá có thể bước đi trên đó. Hưng đi rừng lần đầu chưa quen, nên thỉnh thoảng lại bị trượt chân xuýt ngã. Ba lô lặc lè sau lưng, mồ hồi ướt hết cả thân áo nhưng không dám dừng lại dù chỉ một giây. Bởi dừng lại không theo kịp người trước sẽ bị lạc.
Sau hơn 3 giờ đồng hồ vất vả, cuối cùng cũng ra khỏi rừng. Phía trước mặt là khoảng trống không có cây cối, có ánh đèn dầu le lói. Hưng ngước nhìn thấy bầu trời đầy sao sáng. Có tiếng người đứng nói bên cạnh ngọn đèn chập chờn không soi rõ mặt, phía trước những bóng người ngồi trên những hàng ghế.Hưng đoán có lẽ đại đội đang sinh hoạt buổi tối. Đúng như Hưng nghĩ, đã tới vị trí đóng quân của đơn vị. Hưng nhìn xung quanh, ba ngôi nhà lợp lá xếp hình chữ U quay mặt vào nhau. Giữa là khoảng sân rộng để đơn vị dùng khi sinh hoạt đại đội. Đại đội trưởng quay lại nói:
– Các dồng chí nghỉ tại chỗ.- Đại đội trưởng đi về phía nhà Ban chỉ huy đại đội, đó là căn nhà nhỏ hơn. Ít phút sau quay lại cùng với một người:
– Đây là đồng chí Tiểu đội trưởng nuôi quân, đồng chí ấy sẽ sắp xếp cho các đồng chí tắm giặt và ăn tối, sau một giờ Ban chỉ huy sẽ làm việc cùng các đồng chí.
III
Thời gian trôi nhanh, Hưng ở đây đã hơn một năm. Chính xác là một năm bốn tháng mười hai ngày. Trong rừng Trường Sơn này, ban ngay làm việc trên tuyến, phát cây rừng, đào lỗ chôn bộc phá, đánh nổ, san đường, bạt ta luy tạo nền đường mới. Buổi tối sau giờ tắm giặt, ăn tối là thời gian sinh hoạt từ 19 giờ đến 21 giờ. Hôm thì sinh hoạt cấp đại đội, hôm thì cấp trung đội, tiểu đội. Ngoài việc học các nghị quyết của Đảng, quân đội, là thay nhau đọc báo, hoặc tạp chí văn nghệ quân đội do trung đoàn cấp phát hàng tháng. Cuối cùng nghe phân công công tác ngày hôm sau đến từng tiểu đội, từng cá nhân. Hết giờ sinh hoạt có 30 phút cho công việc cá nhân, rồi tất cả chìm vào giấc ngủ sau một ngày mệt mỏi. Ngoại trừ những chiến sĩ thay nhau canh gác tại chòi. Ngày chủ nhật cả đơn vị được nghỉ, giao lưu giữa các trung đội, tiểu đội. Có một vài chiến sĩ chặt tre rừng về tạo ra những chiếc bẫy, việc này các chiến sĩ quê miền núi thạo nhất. Rồi cùng nhau vào rừng đặt bẫy kiếm con gà, chim rừng, hoặc thú rừng cải thiện. Có ngày bẫy được nhiều gà rừng, cheo cheo rừng cả đơn vị vui không thể vui hơn.
Một ngày đầu tháng giêng năm 1979, thời kỳ này là mùa mưa của Trường Sơn. Mùa mưa ở đây thường kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau. Cũng có ngày tạnh ráo như sáng nay. Tiểu đội của Hưng được phân công phát tuyến, chặt cây rừng cho các tiểu đội khác đào lỗ, chôn bộc phá đánh nổ. Phát tuyến thì vất vả hơn. Khu vực nào cây nhỏ dùng dao đi rừng chặt. Cây to dùng cưa đổ xuống, cưa từng khúc vừa đủ hai người khiêng đưa ra khỏi khu vực mở nền. Cả ngày phát được nhiều nhất chỉ khoảng 500 mét, đó cũng là khối lượng đơn vị giao.
Hưng dùng dao quắm, một loại dao của đồng bào miền núi dùng để đi rừng phát những cây con, cây to thì tổ của Nam dùng cưa máy để hạ. Hưng làm việc say sưa, quên thời gian. Phát đến khu vực có nhiều cây song mây quấn chặt vào nhau, gai mây chằng chịt, sơ xuất sẽ bị cứa rách da thịt. Hưng đeo găng tay vừa phát vừa dọn cây mới phát xong ra khỏi khu vực mở nền. Thoát ra khỏi cụm song mây là đến chỗ thưa cây nhỏ nhưng lại nhiều cây to. Hưng tựa vào một thân cây to để nghỉ lấy sức. Hưng lơ đãng nhìn về phía trước, nơi có nhiều cây to đứng cạnh nhau thầm nghĩ “đoạn này thì tổ thằng Nam mệt đây”. Bỗng mắt Hưng dừng lại, đằng kia có võng của ai mắc ở đó. Hưng chột dạ định quay lại, nhưng trong đầu chút tò mò, thúc giục đôi chân bước tới. Hưng đi chậm chạp, thăm dò. Đến gần Hưng quan sát kỹ chiếc võng thấy đã cũ kỹ và có nhiều lỗ thủng. Hai đầu buộc vào hai cây vừa đủ một người ôm, dây bị kéo dãn căng ra. Điều này cho thấy võng đã buộc ở đây lâu rồi. Hưng lấy tay sờ nhẹ vào chiếc võng, vải mủn vụn ra từng mảng. Quan sát bên dưới võng là một gò đất được vun cao khoảng 40 phân như tổ mối. Trên ụ đất có những lỗ nhỏ. Hưng mạnh dạn ngồi xuống nhìn kỹ thấy một phần của mũ tai bèo lộ ra dưới lớp đất, Hưng dùng tay kéo nhẹ và giật mình đứng phắt dậy. Đúng là mũ tai bèo của bộ đội. Toàn thân Hưng run lên, quay đầu bỏ chạy về phia tổ của Nam. Tới nơi, Hưng hổn hển nói chẳng ra hơi:
– Đằng kia… hình như có người chết, hình như … là bộ đội.
Cả tổ Nam nháo nhác, Nam thấy mặt Hưng tái mét liền hỏi dồn dập:
– Ai chết… ở đâu. Chết bao giờ?
– Đằng kia…
Mọi người nhìn theo hướng tay Hưng chỉ, Nam liền nói:
– Hai người ở lại tiếp tục cưa cây, còn lại đi cùng tôi và Hưng.
Tất cả nhao nhao nói cùng đi, có gì còn hỗ trợ nhau. Nam đồng ý. Mọi người rụt rè bước theo Hưng đi về phía ụ mối. Nam nhìn kỹ ụ mối và nói:
– Liệu có đúng người chết ở đây không? Vừa nói Nam vừa dùng dao quắm cào cào lớp đất dưới chân ụ. Bỗng mũi dao cào phải vật gì đó ghì tay Nam lại, cào mạnh tay một chút, mũi dao kéo ra đầu một nòng súng đã gỉ. Nam bảo anh em bới đất và lôi ra khẩu AK vàng khè gỉ sét, đất bám chặt. Lúc này, Nam hô anh em dùng dao bới ụ đất ra. Ụ đất được san bằng lộ ra bộ xương người trắng toát. Nam hô mọi người lùi lại.
– Đồng chí Vinh quay về báo cáo Ban chỉ huy đại đội. – Vinh là chiến sĩ trong tổ cưa cây – Còn tất cả chờ Ban chỉ huy tới. Nam nói như ra lệnh. Tất cả lùi ra xa đứng chờ, mặt ai cũng căng thẳng. Còn Vinh tất tả đi như chạy về đơn vị.
Khoảng 20 phút sau, Vinh cùng đại đội trưởng Vàng tới nơi. Nam báo lại với đại đội trưởng Vàng về chuyện tìm thấy xương người và chỉ tay về phía chiếc võng rách. Đại đội trưởng Vàng bước đến chỗ có bộ xương người nằm và quan sát kỹ rồi ra lệnh:
– Hai đồng chí Nam và Hưng gom gọn hài cốt lại, còn các đồng chí khác tiếp tục đào bới sâu xuống đất xem còn tìm thấy gì không?
Nam và Hưng chấp hành lệnh của đại đội trưởng, cúi xuống nhặt từng khúc xương, mẩu xương và hộp sọ để gọn sang một phía. Vinh và các chiến sĩ khác dùng dao quắm cào sâu xuống đất bới rộng ra. Vinh chợt nói to:
– Báo cáo đại đội trưởng tìm thấy một cuốn sổ. Còn có một đôi dép cao su, chiếc ba lô đã mục và một băng đạn ẠK đã gỉ.
Đại đội trưởng Vàng cầm cuốn sổ lật giở từng trang nhẹ nhàng sợ giấy rách rời ra. Trang đầu tiên ghi Nguyễn Văn Võ, dãy số HT 1032769 QT. Lật trang thứ hai đến trang cuối là những vần thơ chép tay của các tác giả ngoài Bắc. Gần cuối có ghi đoạn nhật ký chữ mờ khó đọc : Ngày 18/9/1974 vượt Trường Sơn qua Quảng Bình… ngoài những ghi chép trên không thấy ghi quê quán. Tiếp tục tìm kiếm không còn gì nữa, đại đội trưởng quay sang bảo Hưng:
– Đồng chí cởi áo gói toàn bộ hài cốt và các vật tìm thấy cùng đồng chí Nam mang ra suối rửa sạch rồi đem về đơn vị. Còn các đồng chí khác tiếp tục công việc trong ngày.
Hưng và Nam làm theo ý kiến của đại đội trưởng, gói mang hài cốt ra suối cẩn thận rửa sạch những mẩu xương của người đã khuất. Xong việc Hưng vò sạch áo, vắt khô gói hài cốt đem về đơn vị. Đại đội trưởng đã về đơn vị đợi hai người. Ngoài ra còn có chính trị viên Huy và Thịnh liên lạc. Đại đội trưởng đưa cho Hưng một cái áo mới và nói:
– Áo này cấp cho đồng chí thay chiếc áo dùng để gói hài cốt kia.
Lúc này Hưng mới nhớ mình đang cởi trần. Mặc áo xong cùng Nam xếp ngay ngắn gọn gàng bộ hài cốt vào mảnh vải dù của chính trị viên đưa và dặn:
– Hai đồng chí lấy những tấm ván trong phòng Ban chỉ huy, cưa ra và đóng chiếc hộp với kích thước 60mm x40mm x 40mm rồi đặt hài cốt vào đóng kín. Đem vào phòng Ban chỉ huy đơn vị cất. Ban chỉ huy sẽ điện lên cấp trên xin ý kiến. – Cuối ngày mọi việc được giao cũng hoàn tất vào lúc 16h30 chiều. Cả đơn vị cũng sắp từ ngoài tuyến về.
IV
Buổi tối hôm đó, không khí sinh hoạt đại đội khác với thường ngày. Mọi người nghĩ đến bộ hài cốt mới được tìm thấy. Các chiến sĩ bàn tán và có những suy nghĩ riêng của mình. Đại đội trưởng Vàng thông báo với đơn vị là sáng mai có đại diện sư đoàn xuống đơn vị nhận hài cốt mang đi an táng trong nghĩa trong liệt sĩ Trường Sơn. Sau đó, chính trị viên Huy nói chuyện về tình hình thời sự và chính trị của đất nước. Thời gian gần đầy tình hình biên giới phía Nam, phía Bắc đều căng thẳng. Sau 1975 đất nước ta gặp rất khó khăn về kinh tế, hậu quả chiến tranh để lại khốc liệt. Biên giới Tây Nam căng mình chiến đấu chống lại quân Pôn Pôt xâm phạm lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay đang kết hợp với Đảng nhân dân cách mạng Căm Pu Chia chiến đấu. Biên giới phía Bắc, quân đội điều động các đơn vị xây dựng tuyến phòng thủ trải dọc theo biên giới, đề phòng bất trắc xảy ra không bị động. Các đơn vị quân đội ở phía Nam được đặt trong trạng thái sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ chiến đấu.
Sáng sớm tinh mơ, chiếc xe con của sư đoàn chở tham mưu phó cùng đại diện Ban chính sách sư đoàn tới đại đội 4. Các chiến sĩ được tập trung đông đủ trước sân nghe tham mưu phó phổ biến công tác:
– Tôi, tham mưu phó sư đoàn đến đại đội 4 tiếp nhận hài cốt liệt sĩ và phổ biến cho các đồng chí một tin đặc biệt. – Ngừng một lát, tham mưu phó nói tiếp: – Sáng nay, mùng 7 tháng giêng năm 1979, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Cam Pu Chia giải phóng hoàn toàn Phnompenh và đang truy quét tàn quân PonPot. Chúng ta đã và đang khẩn trương hoàn thành xứ mệnh giúp đỡ nước bạn. Nhưng, – Tham mưu phó nhấn mạnh – Phía Bắc đất nước ta rất phức tạp, kẻ xấu đang hàng ngày gây bất ổn cho nhân dân dọc biên giới. Quân ủy Trung ương quán triệt quân đội ta luôn luôn sẵn sàng bảo vệ đất nước, đập tan âm mưu đen tối của kẻ xấu. Sư đoàn Y84 và đơn vị của các đồng chí luôn trong trạng thái sẵn sàng cơ động chiến đấu. Hiện tại, chúng ta phải mở nhanh cung đường này, nối liền với nước bạn Lào. Cuối cùng, tôi thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn biểu dương đơn vị các đồng chí làm tốt chính sách đối với liệt sĩ. Đề nghị chúng ta dành phút tưởng niệm và tiễn đưa liệt sĩ về nghĩa trang Trường Sơn. – Cả đơn vị đứng nghiêm, chào tiễn biệt.
Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979 chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra khắp sáu tỉnh dọc biên giới như nhận định của Đảng và quân ủy trung ương. Trung đoàn X8 được lệnh ăn tết sớm hơn mọi năm. Các chiến sĩ đại đội 4 được lệnh vừa ăn tết vừa chuẩn bị bàn giao cung đường cho đơn vị Z217 tiếp tục thi công. Hưng cùng tiểu đội cuốn vào guồng xoáy khẩn trương của đơn vị. Sư đoàn triệu tập đại đội trưởng Vàng lên sư đoàn đi tập huấn dài ngày. Đơn vị giao lại cho đại đội phó chỉ huy hành quân cơ động cùng trung đoàn ra phía Bắc. Ngày đại đội trưởng chia tay đơn vị hết sức cảm động và bịn rịn. Nhất là Hưng và Nam, hai người có nhiều kỷ niệm với thủ trưởng, nắm chặt tay đại đội trưởng cho đến lúc lên xe. Hình ảnh đại đội trưởng quay đi bước lên xe cùng với những giọt nước mắt đọng trên gương mặt đen xạm. Các chiến sĩ xúc động nhìn theo xe đón đại đội trưởng nổ máy và từ từ chuyển bánh…
V
Ba anh em ngồi ôn lại chuyện cũ đã qua hơn 40 năm. Những chuyện buồn vui nói với nhau cả ngày chưa hết. Chuyện của đại đội trưởng Vàng sau khi chia tay đơn vị như lời đại đội trưởng kể thì gay cấn hơn nhiều. Tập huấn ở trường Lục quân I mất hơn 6 tháng, sau đó được điều động lên mặt trận Vị Xuyên Hà Giang chỉ huy tiểu đoàn pháo binh. Bản thân đại đội trưởng Vàng trước năm 1975 đã chỉ huy đại đội pháo cao xạ chiến đấu trên Trường Sơn. Đơn vị của thủ trưởng Vàng chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên hơn 10 năm. Đến cuối năm 1990 chiến tranh kết thúc, thủ trưởng Vàng được điều về sư đoàn bộ phụ trách Tham mưu phó rồi tham mưu trưởng sư đoàn. Năm 1998 thì chuyển ngành về Tổng công ty dịch vụ Cảng biển có văn phòng tại tại Hà Nội. Năm 2008 được đề bạt là Tổng giám đốc. Công tác ở Tổng công ty này được 22 năm. Trong thời gian 12 năm là Tổng giám đốc, thủ trưởng đã có những bước đi táo bạo làm thay đổi toàn diện Tổng công ty. Phát triển cảng biển, dịch vụ logistic. Chăm lo đời sống người lao động. Doanh thu của Tổng công ty ngày càng cao đáp ứng mong đợi của thành phố và đất nước. Năm 2021 Thủ trưởng về hưu.
…Thời gian trôi nhanh quá, đã xảy ra bao biến cố trong cuộc đời người lính. Bốn mươi nhăm năm, hôm nay ông Hưng được gặp lại thủ trưởng Vàng. Còn bao chuyện để nói, kể cho nhau nghe. Đồng hồ đã điểm canh ngày mới, nhưng chuyện của những người lính vẫn chưa nói hết. Không gian yên tĩnh, thỉnh thoảng có tiếng còi tàu ngoài cảng xa vọng về. Trong phòng khách nhà Nam, những chén rượu vơi lại đầy, những câu chuyện năm xưa vẫn còn tiếp diễn…/.