
Chương 16
Nhật Hiệu xấu hổ gượng nhận chức quan
Khánh Dư ngang tàng tha tù ăn lễ..

Chương 16
Nhật Hiệu xấu hổ gượng nhận chức quan
Khánh Dư ngang tàng tha tù ăn lễ
Thái sư Trần Thủ Độ đang ốm, mới nghe đoạn đầu cuốn Đại Việt sử ký đã uất lên ngất xỉu. Thầy thuốc trong phủ xúm vào cứu chữa. Hồi lâu thái sư tỉnh lại nói:
– Ta tuy không biết chữ nghĩa sử sách chi cả nhưng cũng hiểu Lạc Long Quân và Âu Cơ là Quốc tổ của người Đại Việt, tượng trưng cho giống nòi, là tiên là thần vạn thủa. Thế mà các ngươi dám xúc phạm, coi như người thường được ư? Ai nói với các ngươi là người không đẻ được ra trứng. Gà vịt còn đẻ được trứng, chẳng lẽ người không bằng gà vịt à? Rõ là một lũ mất gốc dốt nát.
Thái sư nói xong rên khừ khừ, đêm ấy qua đời ở phủ đệ, lúc gần đi vẫn lẩm bẩm chửi bọn dốt nát. Ngô Tần vội về triều báo tin thái sư mất. Thượng hoàng và nhà vua cùng đến chịu tang.
Thái sư Trần Thủ Độ khi còn sống ít được học hành, làm nhiều điều dâm loạn, tàn ác nhưng chính ông là người khổ công đắp nền xây móng dựng nên triều đại nhà Trần thịnh vượng, kéo muôn dân cùng đất nước ra khỏi cảnh lầm than. Cũng chính ông là người nhen nhóm từng người lính, mũi tên tạo nên quân đội Đại Việt đủ mạnh làm tròn sứ mệnh đánh thắng cuộc xâm lược đầu tiên của quân Mông Thát vào Đại Việt. Các sử gia đời sau rất nhiều người chỉ trích ông một cách nặng nề nhưng cũng không thể không công nhận: Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt đến lúc mất. Có bài thơ ca ngợi Trần Thủ Độ rằng:
Một đời vất vả dựng cơ đồ
Tấc lòng đâu quản chuyện nắng mưa
Đem thân gánh đỡ ngàn công việc
Dang tay chèo chống vạn mối lo
Trinh liêm ghi tạc lòng quân sĩ
Uy vũ dẹp tan dạ cường Hồ
– Đầu bạc chưa rơi, xin đừng sợ
Nam thiên tráng khí bụi không mờ
Bấy giờ ngự đệ Trần ích Tắc mới mười mấy tuổi nhưng đã rất nổi tiếng văn chương, sau này trong nhà nuôi nhiều môn khách tài hoa như Mạc Đĩnh Chi, Bùi Phóng đến vài chục người, thường cùng nhau xướng hoạ thơ văn, đá cầu, đánh cờ môn nào cũng tỏ ra tinh thạo. Ích Tắc theo về chịu tang, thượng hoàng Thái tông sai Ích Tắc làm một bài văn điếu. Ích Tắc bảo người lấy giấy mực, vén tay áo viết một mạch đến lúc buông bút mới ngẩng lên, nói:
– Tâu Thượng hoàng! Con đã viết xong rồi ạ.
Thượng hoàng cùng nhà vua xem đều khen. Đến khi mang đọc, lời văn lưu loát như nước chảy mà hết sức bi tráng, ai nghe cũng không cầm được nước mắt. Mọi người đều cho Ích Tắc có văn chất thánh thần. Từ đấy Ích Tắc hoá kiêu kì cho rằng mình xứng đáng làm vua hơn, ngầm cử tay chân sang tư thông với người Nguyên, cầu vua Nguyên phong mình làm vua xứ An Nam.
Ngô Tần tâu với nhà vua ý kiến của thái sư Trần Thủ Độ về bộ Đại Việt sử ký nhưng ông nói thêm:
– Thần cho rằng những lời nói của thái sư trong lúc không còn tỉnh táo chưa hẳn đã sáng suốt. Mong quan gia minh xét.
Thánh tông phán:
– Việc này ta đã thỉnh ý thượng hoàng. Người nói: “Truyền thuyết trong dân gian tuy nhiều điều không có căn cứ nhưng nó là sự chung đúc lâu đời của muôn dân bách tính, là niềm ngưỡng vọng của trăm họ, là bảo ngọc tâm linh của non sông. ý dân như vậy, chớ làm khác đi. Vả lại văn tự không có, lấy gì làm bằng cho việc đúng sai? Nếu các học giả ai cũng cứ theo suy luận riêng của mình mà viết thành sách thì sau này hậu thế tránh sao khỏi tình trạng đa thư loạn mục, biết tin vào đâu? Vậy sách viết ra còn có ích lợi gì?” Lê học sĩ! Nhà ngươi hãy khảo cứu viết lại thật kĩ sao cho được bộ sách làm sáng tỏ nền chính trị nước nhà.
Lê Văn Hưu nhận chỉ, tra cứu sử sách, biên chép kĩ càng suốt tám năm trời mới hoàn thành bộ Đại Việt sử ký gồm ba mươi quyển, mùa Xuân năm Thiệu Long thứ Mười lăm (Nhâm Thân-1272) dâng lên nhà vua. Thánh tông xem xong, xuống chiếu khen ngợi.
Một hôm nhà vua đãi yến các quan ở ngự hoa viên, mới hỏi quan ngự sử Trần Chu Phổ rằng:
– Vì sao người Việt ta khi xưa không có chữ?
Trần Chu Phổ tâu:
– Cũng chưa ai nói chắc người việt ta xưa không có chữ. Biết đâu từ đời Triệu Vũ đế muốn triệt hẳn cái gốc của dân ta mới bắt bỏ đi chăng?!
Thượng thư Nguyễn Hiền tâu:
– Đồ đồng đồ đá từ xưa đến nay còn lại rất nhiều, ngoài hình chạm khắc cũng không có văn tự gì. Thần cho là người Việt mình trước kia đúng là chưa có chữ.
Trần Chu Hinh nói:
– Người Việt ta vốn có lòng tự tôn dân tộc, sao lại không có chữ? Thần cho là có nhưng đã bị người Bắc đồng hoá đi rồi. Cần phải tìm cho ra mới được.
Lê Văn Hưu nói:
– Chính vì có lòng tự tôn dân tộc nên thần dám khẳng định người Việt ta xưa kia chưa có chữ. Bởi vì chữ là tài sản quí báu của quốc gia, dân ta vì lòng tự tôn dân tộc nhất định cất giấu không cho người Bắc phá bỏ, đánh mất một tài sản quí giá như thế là một tội lớn. Cha ông ta không thể mắc một tội lớn như vậy được.
Thánh tông vui vẻ nói:
– Không ngờ điều trẫm nêu ra lại được mọi người tranh đàm hào hứng đến vậy, nhưng bây giờ nói gì vẫn còn là quá sớm. Biết đâu năm bảy thế kỷ sau con cháu chúng ta tìm được câu trả lời minh xác.
*
Khi thái sư Trần Thủ Độ mất, ngôi tể tướng bỏ trống. Thánh tông thiết triều, phán:
– Nay thống quốc thượng phụ về trời, chức thái sư phải có người gánh vác. Trẫm xét trong các vương hầu, duy có Khâm Thiên đại vương Nhật Hiệu đảm trách được. Vậy trẫm phong Trần Nhật Hiệu chức thái sư tướng quốc.
Nhật Hiệu bước ra tâu:
– Thần không dám nhận chức ấy. Xin hoàng thượng chọn người có thực tài mới đảm trách được.
Thánh tông hỏi:
– Hoàng thúc hãy nói cho rõ vì sao vậy?
– Muôn tâu hoàng thượng! Khi xưa quân Thát đánh sang, thần không ra sức đánh giặc. Khi thượng hoàng hỏi kế sách, thần sợ hãi không nói thành lời chỉ lấy tay chấm nước viết lên mạn thuyền hai chữ nhập Tống, từ bấy đến nay mỗi lần nghĩ lại muôn phần hổ thẹn. Thượng hoàng nhân từ không trách phạt cũng để thần phải đội ơn trời bể lắm rồi, còn mặt mũi nào dám nhận quyền cao chức trọng.
Thánh tông khen:
– Hoàng thúc thật là có nhân cách. Như vậy lại chả hơn nhiều kẻ tội lỗi đầy mình mà không biết xấu hổ là gì ư? Hoàng thúc không nhận chức thái sư thì thôi. Trẫm phong hoàng thúc làm tướng quốc thái uý vậy.
Như vậy Thánh tông cho Nhật Hiệu không nhận chức “thái sư” nhưng lại ban thêm hai chữ “tướng quốc” thành “tướng quốc thái uý” nắm quyền trong nước. Nhật Hiệu cố từ chối nhưng không được, đành gắng gượng nhận chức.
*
– Cứ đánh tuốt xác nó ra. Không thể thương được những loài bướng bỉnh như vậy. Cơm không ăn, cho mày ăn roi – Mụ hồng thét lên.
út Mãi vung chiếc roi gân bò vun vút, nghe mà nổi hết gai gà. Điệp lăn lộn dưới đất, van xin:
– Con lạy mợ! Mợ bắt con làm gì cũng được nhưng đừng bắt con bán thân.
– Tao chỉ có mỗi việc ấy thôi. Không bán thân sao trả được nợ.
– Con chỉ ăn một tháng cơm của mợ, con về bán mảnh vườn, xin hoàn trả mợ đầy đủ ạ.
– Vườn ở đâu mà bán? Cái bọn lừa đảo chúng mày nói mười không tin được một. Bà theo chân mày về quê à? Mỗi bữa bốn xu rưỡi, hai bữa là chín với một xu nước non tắm rửa, vị chi mỗi ngày là một hào. Mày ở đây một tháng tức là ba đồng.
Điệp thét lên:
– Trời ơi! Nhiều thế làm sao con trả được? Con có muốn ở đây đâu, bà bắt con phải ở đấy chứ.
– A! Nỏ mồm lý sự. Đánh!
Chiếc roi trong tay út Mãi lại lồng lên cắn xé làn da mịn màng của Điệp.
– Bà vẫn biết mày là đứa vô ơn, giỏi cãi lắm. Nhiều à? Chính tay mày điểm chỉ vào giấy nợ đây chứ ai. Tiền của bà nó còn biết đẻ chứ đâu phải chỉ có thế. Một tháng một đồng thành hai, vị chi cứ chồng đủ cho bà sáu đồng bạc ra đây rồi mày muốn đi đâu thì đi.
Điệp gào lên:
– Thì ra tôi không biết chữ, các người lừa tôi.
– Lừa này! Lừa này! Ai lừa mày. Ông thì dận cổ – út Mãi vừa nói vừa quất roi veo véo vào người Điệp.
Chị Mơ chạy vào van xin mụ Hồng:
– Thôi mợ ơi con xin mợ. Để con khuyên em nó dần dần chứ đánh thế này cả tháng sau cũng chưa hết vết lằn, có muốn tiếp khách cũng không được.
– Thôi được! Ta tạm tha cho nhưng chị em phải bảo nhau, đừng để ta phải cho động tay chân.
Mơ kéo Điệp xuống nhà dưới, nói:
– Dại quá em ơi! Chị đã nói rồi, không thể chống lại với họ được đâu. Ngày mới đến đây chị cũng chống đối như em, còn định treo cổ chết nữa nhưng chết cũng chẳng được còn bị đánh đến rách da rách thịt.
Điệp đau quá vừa rên vừa nói:
– Em chết mất thôi chị ạ.
– Chết cũng khó lắm chứ đâu có dễ. Chết được thì chị đã chết rồi. Chẳng ai người ta để cho em chết. Họ nuôi mình như nhà nông chăm chút con lợn. Ai muốn cho lợn chết bao giờ. Tốt nhất là được ăn cứ ăn, được chơi cứ chơi, chiều thằng đàn ông một tí, mình yên thân.
– Đàn bà chúng ta sao ai cũng chỉ muốn yên thân nhưng càng muốn yên, họ càng nhận chúng ta xuống bùn. Em chưa chịu đâu, không thể nào chịu được. Em sẽ trốn đi báo quan.
– á à, giỏi! Giỏi! Đi báo quan! Có thật muốn đi báo quan tao cho người dẫn đi hẳn hoi, không phải trốn – Mụ Hồng đột ngột xuất hiện khiến Mơ và Điệp co rúm lại – Báo quan này, báo quan này.
Mỗi một câu “báo quan này” mụ Hồng véo một cái vào phía dưới cánh tay của Điệp. Những vết véo tụ máu tím lịm. Mơ sợ hãi van xin.
– Con xin mợ. Em nó còn dại, để con bảo nó dần dần.
– Còn cái thân mày nữa đấy, không bảo được nhau, sống cũng chẳng được, chết cũng không xong với bà. Nào! Con kia có muốn đi báo quan không?
Điệp không trả lời. Mụ Hồng bỏ lên nhà trên. Mơ bảo:
– Em hồ đồ quá! Mợ Hồng chính là bà hai của quan huyện chứ ai. Mợ ấy là con nhà danh gia vọng tộc lại được quan châu về thăm luôn. Chính vì để quan châu đi lại tự nhiên với vợ mình nên quan huyện mới được nâng đỡ. Mợ Hồng có nhiều nghề ngón làm mê mẩn lòng người nên quan châu không thể rứt ra được. Quan huyện đã có bà ba, bà tư, mỗi bà một cơ ngơi, thỉnh thoảng mới về đây xem công việc làm ăn buôn bán thế nào thôi.
Điệp ngơ ngác hỏi:
– Buôn bán? Em có thấy buôn bán hàng họ gì đâu.
– Em khờ quá! Chính chị em mình là hàng chứ còn gì nữa? Chị Huệ đấy, bán về Đại La rồi. Khách đến chơi ở đây chỉ là phụ thôi, toàn các thày phán thày đề trong huyện ấy mà, thu được bao nhiêu đâu. Họ đãi nhau là chính. Chị xấu xí thuộc loại hàng ế chứ không cũng bán đi rồi. Đấy! Thế thì quan nào xử kiện cho em?
Điệp kêu lên ngao ngán.
– Trời ơi! Thế này ra quan chỉ biết kiếm lợi thôi. Dân chúng mình kêu ai?
– Thì thế đấy. Quan to có lợi to, quan nhỏ có lợi nhỏ. Không có lợi, ai ngu gì mà làm quan.
*
Người thượng ở Quảng Oai từ khi được Nguyễn Nộn xúi giục vẫn có ý không thần phục nhà Trần. Khi quân Thát vào xâm lấn, họ lập quân ngũ riêng đánh chặn bọn lính Thát đi cướp lúa gạo, giết lính Thát, thu nhiều binh khí, trong đợt truy sát đám tàn quân Hoài Đô và Nghạch Vu Tháp, còn lấy được mấy xe vàng lụa do lính Thát cướp trong kinh thành mang đi. Tù trưởng người thượng khi ấy là Phùng Hà nói với các đầu lĩnh:
– Người man ta từ khi được Hoài Đạo vương thương yêu, ơn trọng như núi. Công lao ấy đối với chúng ta chưa có triều đại nào sánh được. Nay người nhà Trần không có công ơn gì. Bọn quan châu quan huyện chỉ biết hối thúc việc đi tìm mật gấu, xương hổ, da báo, nhung hươu khiến dân ta vô cùng khổ sở. Của rừng có hạn, lòng tham vô bờ. Lần này quan huyện lại đòi mười bộ xương hổ, mười con gấu ngựa, năm sừng tê giác, mười cặp nhung hươu thì lấy đâu ra? Chi bằng ta đánh đuổi bọn huyện quan rồi tự hùng cứ đất đai của mình là hơn.
Các đầu lĩnh mặt mũi tô vẽ dữ dằn cùng nói:
– Chúng tôi xin vâng lệnh.
Phùng Hà chia quân đánh úp huyện đường. Quan huyện đang đêm phải mang gia quyến chạy đến báo với quan châu. Quan châu vội làm sớ dâng lên cáo cấp với triều đình. Trần Thánh tông liền họp các đại thần bàn kế đánh dẹp. Quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân hiến kế:
– Người man xứ Quảng Oai từ xưa tới nay chưa bao giờ thật lòng thần phục là vì họ ở nơi hẻo lánh không được giáo hoá, không biết đến vương pháp, ân đức của triều đình cũng chưa thấm nhuần, trước kia lại nghe Nguyễn Nộn xui bẩy nên mới đem lòng phản trắc. Ta nên sai sứ thần đến khuyên giải lẽ thiệt hơn, ban ân điển của triều đình thì chắc họ theo.
Thông thị đại phu Trần Phụng Công nói:
– Điều quan hành khiển nói cũng mới chỉ đúng một phần. Cái cớ để người man nổi dậy còn vì bọn quan châu quan huyện ở đó quá nhiễu nhương bách tính, tham tàn vô độ. Xin hoàng thượng giáng chỉ bắt tội bọn chúng để yên lòng trăm họ thì hoạ mới được trị tận gốc.
Thánh tông nhìn tướng quốc thái uý Trần Nhật Hiệu, hỏi:
– Hoàng thúc có kế sách gì không?
Nhật Hiệu nói:
– Đại hành khiển cùng Thông thị đại phu bàn rất phải. Một mặt nên cho người đến nói rõ với Phùng Hà, mặt khác đòi quan tri châu tri huyện xứ ấy về triều trị tội, cử người liêm chính đến thay. Nếu Phùng Hà không nghe, ta dùng binh cũng chưa muộn.
Thánh tông nghe theo nhưng bọn Phùng Hà dựa vào miền sơn dã thủ hiểm, không chịu hàng phục. Thánh tông phán:
– Nay ta muốn chọn một tướng đi đánh quân man, hiềm nỗi Hưng Đạo Vương và Lê Phụ Trần đều bận việc cả, có lẽ phải cho người đi gọi đại tướng Trần Khuê Kình về thì việc này mới xong được.
Nhà vua nói xong liếc nhìn hầu tướng Trần Khánh Dư, thấy cái yết hầu chạy lên chạy xuống có vẻ phải nhẫn nhịn lắm. Nhà vua tiếp:
– Ta nghe nói Phùng Hà là người nhiều mưu trí lại có bọn Lương Mi, Phùng Sơn đều là mãnh tướng, phi Lê Tần và Khuê Kình chắc không ai địch được.
Trần Khánh Dư nghe nói vậy, máu uất bốc lên không chịu được nữa, bước ra tâu:
– Thần tuy bất tài nhưng xin quyết đem binh đi bắt sống Phùng Hà về dâng trước điện.
Thực ra Thánh tông biết Khánh Dư là người có tài nên nói khích vậy. Lúc ấy Khánh Dư ngỡ nhà vua coi thường mình mới quyết xin ra trận. Nhưng nhà vua nói:
– Ta cũng biết nhà ngươi có tài nhưng sợ còn trẻ tuổi không phải là đối thủ của Phùng Hà. Vì thế không muốn cử ngươi đi chuyến này.
Khánh Dư quì tâu:
– Xin hoàng thượng cứ để thần đi. Không thắng lợi quyết không sống trên đời làm chi.
Nhà vua nói:
– Khanh đã quyết như vậy, trẫm giao cho hai vạn quân, hẹn trong năm ngày phải lên đường.
Khánh Dư nói
– Trời ơi! Có phải buôn bán lớn đâu mà xuất nhiều vốn thế. Thần chỉ xin năm nghìn quân cũng quá đủ rồi, sau hai ngày lập tức lên đường.
Nhà vua nói:
– Ngươi chớ coi thường. Người man không phải dễ đánh đâu. Ta nghe nói khi xưa Kiến Quốc đại vương giao tranh với chúng còn thất lợi đấy.
– Tâu hoàng thượng! Quảng Oai là nơi đất hẹp, núi hiểm, đem nhiều quân cũng không ích gì, cần dùng mẹo mà thắng mới được chứ dùng sức thì dẫu có mười vạn quân mà họ chạy cả vào núi cũng chẳng làm gì được.
– Ngươi đã nói vậy, trẫm giao cho năm nghìn bộ binh, năm trăm kị binh, mong sớm đến ngày thắng trận ban sư.
Trần Khánh Dư hồ hởi nói:
– Thần xin hết sức để chóng đến ngày hoàn trả quan gia cả vốn lẫn lời.
*
Phùng Hà từ khi đánh đuổi huyện quan, chiếm cứ trị sở làm nơi đóng quân, nghe nói quan binh của triều đình kéo đến, liền cử người đi do thám. Mưu tướng Lương Mi bàn:
– Quân ta ít, quân triều đình đông, nên lui vào núi mai phục chuỳ chông, bẫy đá, tên nỏ cho nhiều, chỉ để lại đây một ít quân khi chúng đến thì bỏ chạy, nhử vào nơi phục binh ắt là phá được.
Phùng Hà khen phải, rồi ra lệnh cứ thế thi hành, dặn Phùng Sơn chọn một trăm người khoẻ mạnh ở lại phủ huyện.
Trần Khánh Dư chia quân làm năm đội, tiền quân một nghìn người do Vũ Quảng làm tiên phong, tả quân là Ninh Cát Đại, hữu quân là Phan Hoành. Khúc Bá Lợi chỉ huy kị binh, bản thân mình giữ trung quân. Vào đúng ngày trung thu đến đất Quảng Oai. Đêm ấy trăng sáng vằng vặc, Khánh Dư cho quân đóng trại nghỉ ngơi, cử thám binh đi dò la tình hình quân man, hôm sau cũng chưa tiến đánh. Ninh Cát Đại nói:
– Việc quân cốt thần tốc. Sao tướng quân không tiến đánh ngay đi?
Đang bàn bạc, thám binh về báo:
– Quân man chỉ có một trăm đứa đóng giữ huyện đường.
Khánh Dư nói:
– Bọn này sợ ta vét nhẵn túi nên làm phép giấu binh đây. Vũ Quảng! Ta cho ngươi mang quân tiên phong đánh thẳng vào huyện đường, người man chạy chớ đuổi, cử vài tên quân nhanh nhẹn bám theo xem chúng chạy về đâu.
Vũ Quảng đem quân đánh vào huyện đường, gặp ngay Phùng Sơn. Hai người đánh nhau được vài hiệp, quân lính của Phùng Sơn hò hét rút chạy. Nghe veo một cái, Phùng Sơn cũng nhào lên cây truyền đi mất dạng, bỏ Vũ Quảng đứng trơ không địch thủ. Vũ Quảng đóng quân lại huyện đường, không đuổi. Phùng Sơn thấy thế quay lại thách đánh. Vũ Quảng cầm đao xông ra. Sơn cứ từ từ vừa đánh vừa chạy về chỗ phục binh. Vũ Quảng quay lại bảo quân lính:
– Đuổi dấn lên bắt lấy vài đứa cho ta.
Quân sĩ hò reo ào lên, không biết đang đi vào miền đất chết. Vũ Quảng đuổi đến khe núi Bạch Trĩ, không thấy Phùng Sơn đâu nữa. Bỗng nghe có tiếng tù và rúc vang từ bốn phía rồi gỗ đá theo sườn núi lăn xuống. Vũ Quảng vội cho quân lui lại nhưng đường đã bị nghẽn. Người thượng hò reo bắn tên, lăn đá xuống như mưa. Phùng Sơn đứng trên núi chỉ tay nói:
– Người mặc giáp mầu nâu, cầm đao kia chính là tướng giặc.
Mấy trăm cây nỏ cùng châu vào bắn. Vũ Quảng chết, tên cắm trên người như một con nhím. Quân sĩ tháo chạy, thiệt hại mấy trăm người. Trần Khánh Dư nghe tin Vũ Quảng chết trận liền gọi Phan Hoành đến dặn:
– Người man là giống thật thà mà hám lợi. Ngươi mang lương thực đóng làm năm trại suốt từ gò Bạch Trĩ đến núi Trâu Đen, cứ trại sau chứa nhiều lương hơn trại trước, mỗi trại cách nhau mười dặm, nếu quân man ra đánh chỉ việc bỏ lương thực mà chạy. Hẹn trong ba ngày phải nhử cho quân man ra đến núi Trâu Đen.
Lại gọi Ngô Kế Trung đến dặn dò mẹo mực cho đi giúp Phan Hoành. Ngô Kế Trung nhận mật kế đi ngay. Khánh Dư gọi Ninh Cát Đại đến, bảo:
– Phía trước núi Trâu Đen có một cái hồ, bên kia hồ là một khoảng rừng thưa. Ngươi mang quân ra đấy mai phục, cứ thế này… thế này mà làm, nhất định bắt được Phùng Sơn.
Phía người thượng thấy quân lính triều đình áp sát chân núi đóng trại, họp nhau bàn. Phùng Hà nói:
– Quan quân đóng trại áp sát là muốn tiến đánh. Ta nên rút sâu vào núi, bên kia lâu ngày chán tất phải bỏ đi.
Lương Mi nói:
– Quan quân đóng liên tiếp mấy trại là muốn tiếp ứng cho nhau để vây hãm lâu dài, nếu không đánh cho nhụt nhuệ khí của chúng đi, bất lợi cho ta lắm.
Phùng Sơn nói:
– Lương Mi nói rất phải, cha để con mang quân ra đánh thử với chúng một trận xem sao.
Phùng Hà nói:
– Quan quân là những kẻ gian dối, hay dùng mẹo lừa người. Con mang quân đi phải cẩn thận lắm mới được.
Phùng Sơn mang quân xuống núi, đến trước trại lính triều đình thách đánh. Một tướng trong trại cầm giáo xông ra. Đánh nhau mới được vài hiệp, bị Phùng Sơn bắt sống, quân sĩ bỏ chạy về trại hai. Phùng Sơn vào trại thu được rất nhiều lương thực, cho quân lính khuân cả lên núi, báo tin thắng trận, dẫn tướng bị bắt vào sơn động. Phùng Hà hỏi:
– Nhà ngươi tên chi? Quân lính triều đình có bao nhiêu? Đóng những nơi nào? Mau khai cho thật nếu không ta nướng ngươi lên đó.
Tướng ấy nói:
– Tôi là hữu quân Phan Hoành giữ một vạn quân chở lương thực đến trước, đợi đại quân đến sau.
Phùng Hà thét:
– Ngươi nói dối! Quân đâu! Đốt lửa lên, nướng tên này cho ta. Triều đình thiếu gì tướng giỏi mà cử một kẻ chưa đánh đã bị bắt như ngươi làm hữu quân?
Phan Hoành cười ngất nói:
– Ta vì bị lên cái nhọt ở vai, không đánh nhau được mới bị bắt chứ đâu có bắt ta dễ thế. Không tin ta thì cứ nướng đi để rồi đến lúc quân triều đình sẽ nướng các ngươi.
Phùng Hà sai lột áo Phan Hoành ra xem, quả nhiên thấy có cái nhọt lớn ở vai sưng tấy rất đau đớn mới sai cởi trói, nói:
– Nay đã bị ta bắt được, ngươi có theo không?
– Tướng bại trận được tha chết, còn gì không theo.
Phùng Hà sai lấy thuốc cao dán vào nhọt cho Phan Hoành, mở tiệc khoản đãi, nhưng vẫn nghi có điều gian dối, cử lính giám sát chặt chẽ. Phùng Hà lại hỏi:
– Các chiến tướng triều đình thế nào.
Hoành nói:
– Tôi là kẻ kém nhất nên mới bị bắt chứ còn nhiều người khác xem ra ở đây không ai địch nổi.
Phùng Sơn quát:
– Ngươi dám khinh người thế ư? Để ta mang quân xuống lấy luôn trại thứ hai cho ngươi xem.
Lương Mi nói:
– Tiểu chủ đã lấy được một trại rồi. Trại này hãy nhường cho tôi.
Phùng Hà cho Lương Mi đem quân xuống núi. Quân triều đình thấy quân người thượng đến, kêu to:
– Phan tướng quân đã bị bắt rồi, chúng ta đánh sao được, chạy đi thôi.
Quân triều đình chạy hết. Lương Mi không phải đánh mà lấy được lương thực còn nhiều hơn Phùng Sơn. Phùng Sơn tức quá, hôm sau lại xin đi đánh. Quân triều đình trong trại bắn tên ra. Sơn cho lấy phên tre đỡ tên, tiến vào. Quân triều đình lại tháo chạy. Sơn thu toàn thắng quay về kể chuyện giao chiến rất hào hứng, không ngờ Phan Hoành bảo:
– Quân triều đình chỉ sợ Lương Mi thôi nên nghe ông ấy xuống là bỏ chạy ngay.
Phùng Sơn uất quá gầm lên:
– Không sợ ta à? Để ta xuống lần này đuổi cùng đường xem chúng có sợ không.
Phùng Hà bảo:
– Để lần này Lương Mi đi xem chúng có dám đánh không.
Lương Mi kéo quân xuống, quả nhiên quân triều đình không dám giao chiến rút chạy hết bỏ lại vô số lương thảo, quân dụng. Lương Mi đại thắng trở về không phải đánh nhau gì cả. Phùng Sơn cáu tiết bảo:
– Ngày mai ta đem quân xuống, nếu đứa nào dám đánh lại sẽ giết hết.
Đang nói chuyện, có thám binh về báo:
– Quân triều đình nhổ trại lui hết đi rồi.
Lương Mi lúc ấy đang đắc chí, nói:
– Bọn chúng hết sạch lương thực, không về mau ở đây mà chờ chết hay sao. Xin động chủ cho đuổi đánh, thế nào cũng bắt được Trần Khánh Dư.
Phùng Sơn hăng máu nói:
– Để con xuống đánh cho chúng tan tành một mẻ.
Phùng Hà bảo:
– Khánh Dư là tay chuyên buôn bán kiếm lời, toàn nhằm cướp lương thảo của người khác, có đâu lại dễ dàng để mất của không thế.
Phan Hoành nói:
– Động chủ phán đoán như thần. Tiểu chủ và Lương đầu lĩnh có đem quân xuống cũng rất khó xoay sở vì Khánh Dư còn rất nhiều tướng kiệt hiệt. Hai vị địch làm sao được.
Phùng Sơn tức quá, quát:
– Để tao xuống bắt Khánh Dư lên đây rồi sẽ sửa đến cái tội của mày.
Phan Hoành cười bảo:
– Tôi chỉ sợ tiểu chủ xuống núi lần này không có cơ hội quay về xử phạt tôi thôi.
Phùng Sơn bị khích, hục hặc muốn xuống đánh lắm. Lương Mi nói:
– Xin động chủ cho tôi cùng tiểu chủ xuống núi, có gì trợ giúp lẫn nhau.
Phùng Hà nói:
– Nếu đã vậy, hai ngươi đem quân xuống trước, ta đi sau tiếp ứng cho.
Cha con Phùng Hà, Phùng Sơn cùng Lương Mi mang quân xuống núi, chỉ để lại mấy chục người canh giữ Phan Hoành và trông coi sơn động. Đi qua gò Bạch Trĩ trời đã tối, chẳng thấy quân triều đình đâu. Phùng Sơn thúc quân đến thẳng núi Trâu Đen cũng không có ai ngăn cản, đến trước trại quân triều đình, chỉ thấy quân lính đốt đuốc nhốn nháo gói buộc để rút. Phùng Sơn hô quân đánh thốc vào trại. Quân triều đình sợ hãi ù té chạy mất. Quân người thượng thấy nhiều của cải, tranh nhau cướp lấy, không còn nghĩ gì đến đánh nhau nữa. Bỗng một tiếng pháo nổ, đèn đuốc cháy lên sáng như ban ngày. Quân triều đình lớp lớp vây bọc quân thượng vào giữa. Lương Mi, Phùng Sơn hai tướng xông xáo nhưng không sao ra khỏi trùng vây, đang khi lúng túng lại có một tướng cưỡi ngựa múa giáo xấn đến quát:
– Ta là hữu quân Phan Hoành đây! Hai thằng kia không cúi đầu chịu trói còn đợi đến khi nào.
Lương Mi, Phùng Sơn hoảng sợ nhào lên cây truyền ra ngòai, chạy sang cánh rừng bên kia hồ, chẳng ngờ gặp ngay phục binh của Ninh Cát Đại vây chặt lấy. Hai người định dùng thuật phi thân truyền cây thoát đi nhưng Phùng Sơn vừa tung người lên liền vướng ngay vào lưới, đành chịu trói. Lương Mi may thoát được chạy đến sáng về sơn động, trên núi đã bạt ngàn cờ quạt của quan binh.
Khi đêm, Phùng Hà thấy phía trước bọn Sơn, Mi đánh nhau với quân triều đình liền thúc quân tiến tên tiếp ứng. Đi chưa được bao xa đã bị đội kị binh của Khúc Bá Lợi đánh tạt ngang, quân sĩ chết nằm la liệt, số còn lại bị bắt sống cả. Phùng Hà được mấy thân tín bảo vệ mở đường máu ra khỏi vòng vây, chạy về động nhưng động đã bị Trần Khánh Dư cướp mất rồi, đành trốn vào rừng, may sao gặp Lương Mi, mới cùng nhau chạy vào động trong. Tới nơi, bọn lính Trong sơn động ra đón, chúng nói:
– Quân Khánh Dư nhiều quá, chúng tôi không giữ nổi động ngoài, phải đem Phan Hoành giải về đây.
Lương Mi nói:
– Thằng này không phải là Phan Hoành. Nó chỉ giả vờ đến lừa chúng ta thôi.
Phùng Hà quát:
– Mày là thằng nào mà dám lại đây lừa ta?
Người kia đáp:
– Ta đích thực không phải Phan Hoành mà là Ngô Kế Trung, gia tướng của của Trần hầu. Các ngươi biết điều thì sớm hàng đi, cố kháng cự tránh sao khỏi tội chết.
Phùng Hà quát võ sĩ:
– Các ngươi moi gan nó ra xem to bằng nao mà dám múa mép với ta.
Ngô Kế Trung cười, nói:
– Ta thường được Trần hầu yêu quí. Ngươi giết ta, không sợ Trần hầu trả thù ư? Con trai ngươi đang ở trong tay Trần hầu đó.
Lương Mi nói:
– Thế lực của ta bây giở không thể làm gì được nữa, chi bằng hàng triều đình, xin tha tù binh để đỡ tốn xương máu thì hơn.
Phùng Hà nghe theo, thả Ngô Kế Trung về, xin Khánh Dư tha Phùng Sơn và tù binh người thượng ra. Khánh Dư nói:
– Ta đã khó nhọc mang quân vào đến đây lẽ nào nói suông một câu hàng mà xong. Hàng nghìn tù binh thế này, ta mang về triều lĩnh không ít tiền thưởng. Phải bắt được Phùng Hà nữa ta mới rút quân về.
Phùng Hà nghe được tin ấy sợ hãi nói:
– Nếu bị giải về triều đình, tính mạng con ta nguy mất.
Lương Mi nói:
– Tôi nghe Khánh Dư chỉ thích tiền bạc cùng gái đẹp. Động chủ nên thân mang lễ vật thật hậu đến, tiếng nói mới được coi trọng.
Phùng Hà nghe theo, liền cùng bọn gia thuộc mang nhiều vàng bạc đến đại bản doanh Khánh Dư để khao quân lại biếu riêng Khánh Dư một hòm vàng lá, ba cặp nhung hươu, năm tấm da hổ, mười cân độc dược để tẩm mũi tên, bao nhiêu châu ngọc cướp được của quân Thát ngày trước đem trả lại triều đình hết. Khánh Dư cười ha hả bảo:
– Có thế chứ. Lẽ đâu ta chịu lỗ vốn.
Lại quay sang bảo Phùng Hà:
– Các ngươi cũng là người Đại Việt cả, ta không có ý giết hại. Lương thực các ngươi lấy được trong năm trại vừa rồi ta cho hết. Từ nay phải thần phục triều đình không được làm phản nữa.
Phùng Hà cùng bọn quân lính dập đầu lạy tạ. Khánh Dư lại trao cho Phùng Hà tấm thẻ bài của triều đình phong làm quan lang. Phùng Hà dâng sớ lên triều đình xin đến tháng chạp vào chầu thiên tử. Từ đấy đất Quảng Oai được yên định. Khánh Dư đem quân về triều, Ngô Kế Trung nói:
– Quân hầu bình man đại thắng sao không bắt bọn Phùng Hà, Lương Mi về triều để hoàng thượng định tội. Nếu có kẻ biết chuyện người man biếu quà đem phát giác, e triều đình có người đàn hặc chăng.
Khánh Dư bảo:
– Chẳng lẽ ngươi không biết câu tướng ở ngoài dẫu lệnh vua cũng có thể không tuân đó sao. Người man cũng vì bọn quan lại ức hiếp quá mới phải làm phản. Ta đã có lợi rồi, sinh phúc cho chúng chứ bức bách đến cùng khác gì xui người ta cưỡng laị. Vả lại ta là con của thượng hoàng, kẻ nào dám đàn hặc ta đây?
Mấy hôm sau Khánh Dư về đến kinh thành, vào triều kiến nhà vua. Thánh tông xuống tận bậc thềm cầm tay nói:
– Ngự đệ đi bình man chuyến này vất vả quá.
Khánh Dư nói:
– Công việc bình man nay đã hoàn thành. Thần xin trả lại quân lính cho hoàng thượng.
Nói xong dâng trả ấn nguyên nhung và trình tờ sớ của Phùng Hà, lại gọi bọn lính hầu khiêng những hòm châu báu do người thượng trả lại đặt trước điện, chỉ giữ lại phần quà riêng của mình. Thánh tông cười, nói:
– Hôm nay qủa là khanh đã trả cả vốn lẫn lãi cho trẫm rồi đây.
Nhà vua nói xong, xuống chiếu phong Trần Khánh Dư chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Nguyên chức này chỉ dành riêng phong cho các hoàng tử, vì thượng hoàng nhận Khánh Dư là con nên mới được phong, rồi từ tước hầu phong lên tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ. Lúc ấy thái tử Khâm đã tám chín tuổi, Thánh tông giao cho Khánh Dư rèn luyện võ nghệ, binh pháp. Vì thế Khánh Dư được thường xuyên ra vào nơi cung cấm.
Một hôm Khánh Dư ở trong cung về, người nhà đến báo Ngô Kế Trung đã mang vợ con bỏ đi rồi. Khánh Dư đến xem, chỉ thấy một tờ giấy biên chép những thứ vàng bạc Khánh Dư cho mà Ngô Kế Trung đã mang đi. Khánh Dư lắc đầu than:
– Ngô Kế Trung sống cùng ta từ khi còn nhỏ tuổi, bao phen hoạn nạn vào sinh ra tử có nhau, bây giờ được giầu sang sung sướng sao lại bỏ đi không lời từ biệt thế này?
Nói rồi cho người đi tìm nhưng suốt mấy trăm dặm không thấy tin tức gì. Khánh Dư ngày càng được triều đình trọng vọng, bữa ấy cùng thái tử ra chơi vườn ngự uyển, phía bên kia thuỷ đình thấy thấp thoáng bóng giai nhân bên dặng liễu, liền rủ thái tử sang bên ấy, hoá ra là Thiên Thuỵ công chúa đang cùng thị nữ ngắm hoa. Thiên Thuỵ năm đó đang ở tuổi trăng tròn, xinh đẹp đoan trang, rực rỡ hơn thược dược, tươi thắm tựa mẫu đơn. Khánh Dư mắt nhìn đăm đăm chẳng khác kẻ đang khát trông thấy trái cam ngọt, khiến công chúa xấu hổ quay đi nhưng sắp đến chỗ rẽ, ngoảnh lại ném cho Khánh Dư một nụ cười duyên. Thế thôi cũng đủ lao đao một đời nam tử.
Từ lúc gặp công chúa Thiên Thuỵ, Khánh Dư không lúc nào không tưởng nhớ tới nàng. Hôm sau cũng giờ ấy, chàng lại vào vườn hoa nhưng không gặp công chúa. Hôm sau nữa, hôm sau nữa cũng vậy. Khánh Dư buồn khổ vô cùng, ra ra vào vào, chán ăn chán ngủ, ốm lử khử lừ khừ rồi ốm thật, nóng sốt, hôn mê, luôn mồm kêu:
– Con quỉ! Con quỉ con xinh đẹp, ai bảo ngươi nhìn ta. Ngươi giết ta rồi.
Thầy thuốc đến khám không tìm rõ được nguyên cớ, chỉ nói bệnh ở tâm, sốt cao quá nên phát chứng kinh phong. Cho uống thuốc mấy ngày, đỡ sốt nhưng Khánh Dư vẫn buồn phiền không nói năng gì. Người nhà cho mời thầy bói đến. Thày bói xem, gieo quẻ đoán:
– Tướng quân đi bình man bị thần núi Bạch Trĩ quở phạt. Phải lập đàn chay cầu cúng bảy ngày bệnh ắt khỏi.
Người nhà nghe theo, cúng bái suốt bảy ngày đêm, bệnh vẫn y nguyên. Khánh Dư ngày càng lầm lì, thân hình võ vàng gầy rộc, thỉnh thoảng kêu:
– Trời ơi! Khổ quá trời ơi. Ta chết mất thôi.
Thầy thuốc nói:
– Không ăn không ngủ thế này, ngày một suy kiệt đi, khó chữa lắm.
Thật là:
Một cái liếc tình không gươm giáo
Cũng làm tan nát dạ anh hùng
Chưa biết Trần Khánh Dư có khỏi được bệnh không? Chương sau xin nói rõ
Đ.T