
Trịnh Kiểm được phong làm Lượng Quốc công, Tiết chế quân thuỷ bộ, được độc quyền nắm giữ việc binh, tổng tài chính sự, trị dân dạy người, tuyên bố uy đức. Năm ất tị (1545) nhà Lê tiến quân vào mạn Nam đánh đất đai nhà Mạc trong đó, sự nghiệp trung hưng bắt đầu mạnh từ đây..(Vĩ thanh phần 1)

Trịnh Kiểm được phong làm Lượng Quốc công, Tiết chế quân thuỷ bộ, được độc quyền nắm giữ việc binh, tổng tài chính sự, trị dân dạy người, tuyên bố uy đức. Năm ất tị (1545) nhà Lê tiến quân vào mạn Nam đánh đất đai nhà Mạc trong đó, sự nghiệp trung hưng bắt đầu mạnh từ đây (Vĩ thanh phần 1)
Vĩ thanh
1
Được tin Mạc Đăng Dung mất, Nguyễn Kim sai Trịnh Kiểm sang Ai Lao đón Lê Trang Tông về Nghệ An, quyết tâm sự nghiệp trung hưng nhà Lê.
Thấy triều đình nhiều chuyện không còn được như trước, năm Nhâm dần (1542), Nguyễn Bỉnh Khiêm mượn cách dâng sớ xin chém mười mấy lộng thần, vua không nghe, để xin về an trí. Vua cho về với điều kiện có việc gọi thì phải về kinh.
Đầu năm Quý mão (1543) Trang Tông thân chinh cầm quân, cùng Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim và Đại tướng quân Dực Quận công Trịnh Kiểm tiến ra Thanh Hoa. Hoằng vương Mạc Chính Trung không chống nổi phải chạy về Sơn Nam, tướng Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đường cùng nên đầu hàng nhà Lê. Trang Tông để ra hai năm củng cố những nơi đã lấy được, sau đấy vượt đèo Tam Điệp tiến đánh Sơn Nam Hạ. Từ đây chính thức bắt đầu cuộc chiến kéo dài 50 năm (1543 – 1592), sử gọi là nội chiến Nam – Bắc triều.
Trong khi dừng lại đóng quân ở hạt Yên Mô thì Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất bỏ thuốc độc giết chết. Dương Chấp Nhất lại trở về với nhà Mạc. Nhân đó, quân Mạc tiến đánh quân Lê nhưng bị thua. Trịnh Kiểm cũng rút về Thanh Hoa.
Trịnh Kiểm được phong làm Lượng Quốc công, Tiết chế quân thuỷ bộ, được độc quyền nắm giữ việc binh, tổng tài chính sự, trị dân dạy người, tuyên bố uy đức. Năm ất tị (1545) nhà Lê tiến quân vào mạn Nam đánh đất đai nhà Mạc trong đó, sự nghiệp trung hưng bắt đầu mạnh từ đây. Thấy vậy, hào kiệt nhiều nơi theo tìm đến. Học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Phùng Khắc Khoan cũng từ Bắc tìm đường vào với Nam triều.
Để đề phòng giặc Minh xâm lược, Ninh vương Mạc Phúc Tư (con thứ hai của Mạc Đăng Doanh) từ khi được giao cai quản dải đất ven biển các huyện Thuỷ Đường, Nghi Dương, Đông Triều, đã chọn vùng sông Giá, sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng để lập đại bản doanh ở núi Phượng Hoàng, làm Đượng Voi, đắp Thành Dền, vừa làm thành vừa là đấu đong quân, rồi quai đê ngăn nước mặn, đắp đường, dựng lò gạch, đóng thuyền, luyện thuỷ quân…
Trong khi thế và lực của nhà Mạc bắt đầu đi xuống thì vua Mạc Phúc Hải đột ngột qua đời khi tuổi mới ngoài 20, ở ngôi được 6 năm. Đó là năm Bính ngọ (1546). Triều đình đặt tên thuỵ cho nhà vua là Hiến Tông Hiển hoàng đế.
*
Vua Mạc Phúc Hải mất, Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi bàn: “Hiện trong nước đương lúc nhiều nạn, nên lập vua lớn tuổi. Nay Hoằng vương Chính Trung là con thứ của vua Thái Tổ đã nhiều phen cầm quân và thường thắng trận. Vậy xin dựng lên nối ngôi”. Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính không nghe, lập con trưởng Mạc Phúc Hải là Mạc Phúc Nguyên. Vua tuổi còn nhỏ nên bao nhiêu công việc lớn nhỏ đều uỷ thác vào người chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển.
Phạm Tử Nghi liền làm phản, cùng Mạc Chính Trung chiếm cứ miền Hoa Dương, lập triều đình riêng. Mạc Kính Điển và Nguyễn Kính mấy lần mang quân đánh Chính Trung và Tử Nghi không nổi vì Tử Nghi vốn là một kiện tướng, sức khoẻ hơn người, lại được quân sĩ hết lòng. Kính Điển phải điều thêm Lê Bá Ly, mấy mặt cùng lúc tiến đánh Mạc Chính Trung và Phạm Tử Nghi. Chính Trung, Tử Nghi bị thua, cùng người con của Mạc Đăng Dung là Định vương Mạc Phục Sơn chạy lên xứ An Quảng, sau đó chạy sang Khâm Châu.
Năm Mậu thân (1548), ở Thanh Hoa vua Lê Duy Ninh tức Trang Tông cũng mất, thọ 34 tuổi. Con Duy Ninh là Duy Huyên lên nối ngôi, đó là Lê Trung Tông. Trịnh Kiểm thấy cần thêm thời gian để củng cố lực lượng nên cũng không tiến quân ra Bắc.
Đầu năm Tân hợi (1551), nhà Mạc lại một lần nữa lục đục. Phạm Quỳnh vốn là kẻ hầu người hạ nhà Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly. Khi Mạc Kính Điển lên 2 tuổi, thường ốm đau nên Bá Ly sai vợ Phạm Quỳnh vào cung làm vú nuôi Kính Điển. Nghĩ đến công nuôi dưỡng ấy, sau này Kính Điển trọng dụng cả Phạm Quỳnh và con y là Phạm Dao, phong Phạm Quỳnh làm Vinh Quận công giữ quyền tiết chế Đông đạo, Phạm Dao làm Văn Quận công trấn thủ Sơn Nam, coi Nam đạo. Từ đó hai cha con họ có ý tranh giành với chính Lê Bá Ly. Con Bá Ly là Lê Khắc Thận đương tuổi thanh niên nên thích chơi bời ca hát và mua sắm kiệu son, lọng vàng, cất nhà cửa lộng lẫy, thấy vậy cha con Phạm Quỳnh liền gièm với Mạc Kính Điển rằng Khắc Thận có ý làm phản. Kính Điển nói: “Quốc gia trông cậy vào tướng phụ như quả núi cao, Khắc Thận lại là Phò mã, các ông không nên nói những lời như vậy”. Hai cha con họ lại đi gièm với nhà vua. Nhà vua ậm ừ cho qua.
Thấy tình như vậy, đang đêm Phạm Quỳnh, Phạm Dao tự ý đem quân tiến đánh Lê Bá Ly và thông gia Bá Ly là Nguyễn Thiến. Nhưng chính Quỳnh, Dao bị thua và phải chạy tới chỗ nhà vua nương náu. Bá Ly đem quân chiếm cửa Chu Tước, đòi nhà vua nộp cha con Quỳnh, Dao. Vua Mạc Phúc Nguyên không những không nghe mà còn gọi quân các nơi về cứu giá. Lê Bá Ly chia quân chống cự và viết thư gọi các tướng tâm phúc mang quân tới. Quân nhà vua thua chạy. Lê Bá Ly vẫn đòi vua giao cho mình cha con họ Phạm, lúc đó sẽ bãi binh. Vua Mạc quyết không nghe.
Lê Bá Ly uất ức, mắng nhiếc Mạc Phúc Nguyên rồi cùng thông gia là Thư Quận công Nguyễn Thiến, hai con là Lê Khắc Đôn, Phổ Quận công Lê Khắc Thận, con rể là Văn Thái hầu Nguyễn Quyện, em Nguyễn Quyện là Nguyễn Miễn mang 4 vạn quân vào Thanh Hoa theo nhà Lê. Lúc này Bá Ly đã 77 tuổi, là bậc kỳ lão có danh vọng nên vua Lê và Trịnh Kiểm đều rất kính trọng. Nghe tin Bá Ly vào Nam triều được trọng dụng, rất nhiều mưu thần mãnh tướng nhà Mạc cũng bỏ Bắc triều vào với nhà Lê, trong đó đáng kể có tướng Tây đạo là Thái uý Đoan Quốc công Nguyễn Khải Khang mang theo 3000 quân. Nhà Mạc bị mất chỗ dựa tin cậy và đột nhiên suy sụp chỉ vì bao che cho cha con một kẻ gian nịnh.
Thấy vua Mạc bị bày tôi lìa bỏ, tháng 4 năm ấy, vua Lê sai Lê Bá Ly ra Sơn Nam, Nguyễn Khải Khang ra Sơn Tây, đồng thời cho người liên hệ với Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, phong cho y làm Gia Quốc công, ba mặt cùng tiến đánh nhà Mạc. Quân Mạc không chống nổi, Mạc Phúc Nguyên phải bỏ kinh đô, đang đêm qua sông Nhị Hà, chạy sang Kim Thành trấn Hải Dương; sai Mạc Kính Điển đóng quân ở Bồ Đề, đắp luỹ đất, quân thuỷ quân bộ đóng xen kẽ nhau phòng thủ nghiêm ngặt.
Thấy nhà Mạc đã gần như mất hết đất đai, chỉ còn giữ được hai đạo Đông và Bắc, Lê Bá Ly và Nguyễn Khải Khang dâng biểu xin vua Lê ra Đông Kinh. Trịnh Kiểm lại cho rằng quân Mạc còn đông, lòng người nhiều nơi còn theo, dù có lấy được Đông Kinh cũng khó bề giữ nổi nên quyết định rút về Thanh Hoa. Quả nhiên ngay đó quân Mạc cho thuỷ quân vòng xuống đánh sau lưng quân Lê, may sao Trịnh Kiểm đã chuyển hậu quân thành tiền quân nên tránh được thiệt hại. Vũ Văn Mật cũng rút về Tuyên Quang, củng cố thành trì cố thủ.
Mạc Phúc Nguyên trở lại Đông Kinh và thu hồi lại Sơn Tây, Sơn Nam.
Lúc này tại miền cực Nam, châu Thuận, châu Hoá và đạo Quảng Nam vẫn thuộc nhà Mạc và Mạc Phúc Nguyên thường xuyên cho thuyền vượt biển vào liên hệ với những nơi ấy. Sợ đến một lúc nào đó quân Mạc sẽ từ hai ngả Bắc – Nam tiến đánh, nên nhân lúc nhà Mạc chưa thể cho quân uy hiếp Tây Kinh, năm Giáp dần (1554) Trịnh Kiểm mang đại quân tiến sâu vào mạn Nam. Quân Mạc ở đó không có viện binh nên nhanh chóng thua trận. Hai châu Thuận, Hoá thuộc về Nam triều. Quân Mạc rút sang bên kia đèo Hải Vân giữ đất Quảng Nam.
Nghe tin mất vùng đất phía Nam, vua Mạc sai Mạc Kính Điển mang hơn 100 chiến thuyền vào đánh Thanh Hoa, bị các tướng cũ nhà Mạc là Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Quyện đánh cho thua trận. Kính Điển thu thập tàn quân chạy về Đông Kinh.
Tháng Giêng năm Bính thìn (1556), Lê Trung Tông mất khi mới 22 tuổi, ở ngôi được 8 năm, không có con nối ngôi. Trịnh Kiểm muốn lên ngôi nhưng còn do dự. Biết Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ẩn dật ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, là người giỏi nho, lý, số, người đương thời coi là bậc tiên tri, Kiểm liền cho người bí mật ra Bắc hỏi nên như thế nào. Trạng Trình trả lời bằng cách bảo đầy tớ rằng: “Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống cũ mà gieo mạ!”. Sau đó lại sai đầy tớ ra chùa bảo chú tiểu quét chùa để ông ra chơi, tới chùa ông bảo chú tiểu: “Muốn ăn oản thì phải giữ chùa, thờ Phật”. Sứ về Thanh Hoa thuật lại đầu đuôi, Trịnh Kiểm nghe ra nên đưa người cháu 5 đời của Lam Quốc công Lê Trừ (anh Lê Lợi) là Mai Sơn hầu Lê Duy Bang lên ngôi, đó là Lê Anh Tông. Anh Tông chính là cháu gọi Dực nghĩa hầu Lê Duy Thiệu là ông.
Lê Bá Ly mất ở Thanh Hoa năm Đinh tị (1557), thọ 82 tuổi, được truy phong là Nghĩa Huân công. Năm đó Mạc Kính Điển vào đánh Thanh Hoa, bị thua phải nhảy xuống sông bơi vào hang núi trốn, nhịn đói tới 3 ngày, một đêm thấy cây chuối trôi qua cửa lạch mới ôm lấy bơi về, mấy ngày sau mới tới bến Trinh Nữ hạt Yên Mô và được một người đánh cá cứu sống!
Cũng năm ấy, vào tháng 8 thông gia của Lê Bá Ly là Thư Quận công Nguyễn Thiến mất. Hai con của Nguyễn Thiến là Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn bàn nhau quay lại với nhà Mạc, được vua Mạc khôi phục chức cũ. Hai anh em Nguyễn Quyện đều là dũng tướng, lại ở Thanh Hoa 6 năm trời nên hiểu rõ tình hình Nam triều, vì vậy việc họ trở lại Bắc triều làm Trịnh Kiểm hết sức lo lắng nên Kiểm phải đích thân cầm quân đánh Nguyễn Quyện song bị thua to, chết mất vài chục tướng, bao nhiêu thuyền bè mất hết.
Nguyễn Khải Khang sau đấy cũng bị quân Mạc trá hàng bắt sống. Người có công bắt Khải Khang là Mạc Ngọc Liễn, con Tây Quốc công Nguyễn Kính và là cháu gọi Khải Khang bằng cậu! Vua Mạc xử tử Khải Khang bằng cực hình: dùng xe kéo xé xác.
Trịnh Kiểm từ đó chuyên quyền. Con trưởng Nguyễn Kim là Nguyễn Uông thấy anh rể mình như vậy có ý không bằng lòng và thường than thở với xung quanh rằng sự nghiệp trung hưng nhà Lê và cả sự nghiệp của Trịnh Kiểm là do cha mình gây dựng. Nghe được, Trịnh Kiểm liền tìm cớ giết Nguyễn Uông. Em Uông là Nguyễn Hoàng phải giả cách đau ốm nằm ở nhà để tránh nghi ngờ và cũng cho người ra Bắc hỏi Trạng Trình nên như thế nào. Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói sao, lẳng lặng dẫn sứ giả ra hòn non bộ ngoài sân và bảo: “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” (Hoành Sơn một dải, có thể dung thân) (*). Sứ giả về thưa lại, Nguyễn Hoàng hiểu ra, nói với chị là Ngọc Bảo (vợ lẽ Trịnh Kiểm), xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Nhận thấy miền đất ấy xa xôi, hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, là nơi “Ô Châu ác địa”, mặt Nam vẫn thuộc về nhà Mạc, quân Mạc có thể vượt qua đèo Hải Vân bất cứ lúc nào hoặc cùng thuỷ quân quân Mạc từ Bắc vào, phối hợp chiếm lại những đất đã mất; từ đó lập lại thế kẹp Nam triều vào giữa, nên Trịnh Kiểm bằng lòng cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, giao cho toàn quyền xử lý mọi việc ở hai nơi, thu thuế nộp về triều đình đúng kỳ hạn. Năm Mậu ngọ (1558) Nguyễn Hoàng đem người nhà và quân bản bộ vào Thuận Hoá, cùng đi còn có nhiều người Tống Sơn, dinh trại đầu tiên được lập ở ái Tử.
Năm Kỷ mùi (1559) Trịnh Kiểm huy động 6 vạn quân, nói phao lên là 12 vạn, không theo đường Sơn Nam như mọi lần mà theo lối Thượng đạo là chỗ quân Mạc không hề phòng bị, xuyên rừng bất ngờ đột nhập đánh lên Sơn Tây, qua đò sông Thao, hội với quân Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, đánh sang Thái Nguyên, lên mạn Bắc chiếm thành Lạng Sơn, từ đó đánh xuống Kinh Bắc và đánh sang mạn Đông, hạ hết đồn luỹ các vùng Văn Giang, Chí Linh, Đông Triều, An
____________
(*) Sau nhà Nguyễn sửa là:”Vạn đại dung thân” ( Dung thân muôn đời).
Dương. Nam triều luôn thiếu lương thực nên những lần đánh ra Bắc trước đây thường chỉ một thời gian ngắn rồi rút về, lần này họ đến đâu gặt lúa thu thóc đến đấy nên lương thực dồi dào và có thể ở lại lâu dài nên Bắc triều bị một phen tan nát. Vua Mạc phải chia quân đóng đồn suốt một dải phía Tây Đông Kinh để phòng thủ và sai Mạc Kính Điển sang sông giữ Kinh Bắc. Nhà Mạc lúc này chỉ giữ được Đông Kinh và một số nơi xung quanh, cùng với phần lớn xứ Hải Đông, Sơn Nam còn thì bao nhiêu đất đai rơi hết vào tay Lê – Trịnh nên vua Mạc vô cùng kinh sợ!
Có người hiến kế dùng cách xuất kỳ bất ý, ngầm mang quân đánh thẳng vào Thanh Hoa, nơi căn bản của nhà Lê thì đạo quân địch đang đánh Kinh Bắc, Hải Dương không cần đánh cũng sẽ tự lui; đó chính là kế “Đánh Nguỵ cứu Hàn” của Tôn Tử ngày xưa. Phúc Nguyên nghe theo, liền gọi Kính Điển từ Kinh Bắc về, sai mang quân vào đánh Thanh Hoa. Quân Lê ở đó không phòng bị nên thua to. Hay tin, Trịnh Kiểm vội điều binh về cứu Thanh Hoa, sau đó bản thân cũng lui về Tây Đô. Nhờ vậy nhà Mạc mới thoát được diệt vong và dần dần thu hồi lại những vùng đất vừa bị mất.
Lần ra quân này của Trịnh Kiểm kéo dài tới hơn một năm rưỡi, các tướng nhiều người lập công nên Trịnh Kiểm tâu vua thăng thưởng rất hậu cho họ, mưu thần là Phùng Khắc Khoan được làm Ngự doanh ký lục tri Tứ vệ.
Phùng Khắc Khoan từ Sơn Tây xuống Vĩnh Lại, Hải Dương theo học Trạng Trình. Tuy là học trò lớp sau Lương Hữu Khánh nhưng vì cùng ăn cùng ở, gắn bó mật thiết với Hữu Khánh nên cũng bị Bắc triều ghét lây, khoa thi Hương năm Nhâm tí (1552) đáng lẽ Khắc Khoan đỗ Hương cống thì bị đánh tụt xuống Sinh đồ. Bất bình, Khắc Khoan tìm đường vào Thanh Hoa theo nhà Lê. Tại Thanh Hoa, sau này Khắc Khoan thi Hương đỗ Giải nguyên, thi Hội, thi Đình đỗ Hoàng giáp. Phùng Khắc Khoan tài kiêm văn võ, theo Trịnh Kiểm ra Bắc giúp rất nhiều trong việc đánh các xứ Sơn Tây, Hưng Hoá.
Tháng 2 năm Giáp Tí (1564), vua Mạc Phúc Nguyên bị bệnh đậu mùa mất, ở ngôi được 19 năm. Triều đình truy tôn là Tuyên Tông Anh Nghị hoàng đế.
*
Con Mạc Phúc Nguyên là Mạc Mậu Hợp mới tròn một tuổi nối ngôi. Hai người ông đằng chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển và ứng vương Mạc Đôn Nhượng làm phụ chính. Hay tin đó, Trịnh Kiểm tiến quân ra Sơn Nam song bị chặn lại ở sông Đáy; trong khi ấy Mạc Kính Điển lại cho thuyền chiến theo đường biển vào đánh Thanh Hoa khiến một lần nữa Trịnh Kiểm phải về cứu Thanh Hoa.
Sau trận chiến dịch lớn kéo dài hơn một năm trời vào năm Kỷ mùi, hai bên nhận ra chưa thể thắng được nhau nên cùng nghỉ ngơi đến chục năm, có chăng chỉ diễn ra vài trận đánh nhỏ, có trận quân Nam triều ra Sơn Nam mục đích chỉ cốt cướp thóc lúa các huyện bên kia đèo Tam Điệp là Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn, Phụng Hoá mang về xứ Thanh vì mạn trong núi non nhiều, ruộng nương ít nên lương thực không bao giờ được dồi dào.
Năm Kỷ tị (1569), Trịnh Kiểm được gia phong lên tước Thượng phụ thượng tướng Thái Quốc công; một năm sau, tháng 2 năm Mậu ngọ thì chết, thọ 68 tuổi, được vua Lê truy tôn làm Minh Khang thái vương. Tính ra từ khi Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm đã đích thân 10 lần cầm quân tiến ra Bắc, tất cả đều theo đường bộ, trong đó có hai trận đánh lớn vào các năm Tân hợi (1551) và Kỷ mùi (1559); Sơn Nam bên kia đèo Tam Điệp sát với Nam triều là nơi hứng chịu chiến tranh nhiều nhất. Phía Bắc triều ra quân ít hơn nhiều nên xem ra quân đội Nam triều có ưu thế song thực ra đây là thời kỳ giằng co ngang ngửa giữa đôi bên.
Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng được giao nắm binh quyền. Trịnh Cối là con bà cả, Trịnh Tùng là con bà thứ Ngọc Bảo (con gái Nguyễn Kim) nên Trịnh Cối nắm quyền cao hơn. Song do Cối ham mê tửu sắc và làm nhiều điều thất nhân tâm nên chỉ hai tháng sau ngày Trịnh Kiểm mất, các tướng yêu cầu Trịnh Tùng lên thay Trịnh Cối. Trịnh Tùng bèn cùng các tướng đến Trường Yên tâu lên vua Lê tội trạng của Trịnh Cối. Biết chuyện, Trịnh Cối đem 1 vạn quân đánh Trịnh Tùng. Hai bên đánh nhau đến 7 ngày trời rồi cùng chia quân đóng giữ các nơi cầm cự nhau. Tướng nhà Lê là Lập Bạo thấy tình hình Nam triều rối ren liền dẫn con em đầu hàng nhà Mạc và kể hết sự tình mạn trong. Mạc Kính Điển rất mừng.
Sau mấy tháng chuẩn bị, ngày 16 tháng 8 năm Canh ngọ (1570), Kính Điển mang 10 vạn quân cùng 700 chiến thuyền, sai Lập Bạo làm tiên phong tiến đánh Nam triều. Các mưu thần võ tướng tài ba nhất đều xung trận: Mạc Đôn Nhượng, Mạc Đĩnh Khoa giữ cửa biển Thần Phù; Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn chia làm 4 đội; Mạc Kính Điển thân giữ trung quân và lĩnh đội thứ 5. Chiến thuyền ào ạt rẽ sóng tiến vào các cửa sông miền Thanh Hoa, Nghệ An, như Linh Trường (Lạch Trường), Chi Long, Hội Triều (cửa Hội). Quân Mạc đổ lên bờ, đóng trại ở Hà Trung, khi nổi lửa thổi nấu, khói cuồn cuộn kéo dài tới chục dặm. Trịnh Cối tự liệu không thể địch nổi, dẫn hơn vạn quân cùng các bộ tướng đầu hàng. Mạc Kính Điển tổng động binh, đôi bờ sông Mã, sông Lam khói lửa ngất trời, bóng cờ rợp đất. Dân chúng Thanh Hoa cõng già dắt trẻ chạy vào núi, kêu khóc khắp đường.
Đích thân vua Lê phải cầm một đạo quân giữ Đông Sơn. Trịnh Tùng đào hào đắp luỹ cố thủ. Khắp Thanh Hoa trở thành chiến trường. Hai bên đánh nhau đến nửa năm trời. Nam triều mạnh về quân bộ, Bắc triều mạnh về quân thuỷ. Binh mã Bắc triều tuy chịu lạnh giỏi nhưng nhiều người sống ở các miền đồng bằng nên không quen với rừng núi, sang tháng 12 trời bắt đầu trở lạnh, khí độc trong núi bốc ra, nước sông cạn thuyền tiến lên đã khó, muốn quay mũi còn khó hơn, lương thực thì cạn, thấy vậy Mạc Kính Điển rút quân ra Bắc. Đến lượt Nam triều thoát được hoạ diệt vong.
Vua Anh Tông phong cho Trịnh Tùng làm Thái uý Trưởng Quốc công. Từ đó Trịnh Tùng chuyên quyền, bắt đầu lấn át vua Lê. Lê Cập Đệ muốn giết Trịnh Tùng để giành lại quyền cho vua Lê nên bày mưu mời Tùng xuống thuyền uống rượu ngắm trăng để giết, không ngờ Tùng biết nên chính Cập Đệ lại bị giết. Đang đêm vua Anh Tông đem 4 hoàng tử chạy vào Nghệ An. Trịnh Tùng lập con thứ 5 của Anh Tông là Duy Đàm khi đó mới 7 tuổi lên ngôi, đó là Lê Thế Tông. Sau đấy Trịnh Tùng cho người vào Nghệ An đem vua cũ về, đến Lôi Dương thì giết chết. Như vậy Lê Duy Bang ở ngôi được 16 năm. Từ đây quyền hành ở Nam triều hoàn toàn rơi vào tay họ Trịnh, vua Lê chỉ làm vì nên sử gọi là thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh.
Cũng vào năm Canh ngọ (1570), Nguyễn Hoàng đánh chiếm Quảng Nam, hoàn thành việc thâu tóm miền đất phía Nam của nhà Mạc. Hai vương nhà Mạc là Nhân Phủ và Quang Khải phải phân tán lực lượng vào rừng núi rồi đổi thành họ Huỳnh để bảo toàn tông tộc, từ đó chỉ chủ trương vỡ hoang, lập ấp vì vậy lại có công với nhà Nguyễn, sau này được vua Gia Long sắc phong làm Huỳnh Quốc công.
Về với Bắc triều Trịnh Cối được phong làm Trung Quận công, Lập Bạo làm Lập Quận công và trấn thủ Hải Dương. Lập Bạo tâu với vua Mạc rằng từ khi vào trấn thủ Thuận Hoá, Quảng Nam cho đến nay, Nguyễn Hoàng chỉ chú trọng khai hoang lập ấp chứ ít lo tới việc binh vì nghĩ nơi ấy xa xôi, cách trở, quân Mạc không thể nào tới được. Nay nên cho thuỷ quân vào đánh. Lấy lại được được hai nơi ấy rồi cùng lúc từ đấy đánh lên từ Bắc đánh xuống, chắc chắn Nam triều phải tan. Vua Mạc nghe theo, sai Trịnh Cối, Lập Bạo mang 70 chiến thuyền vào đánh Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng vào mạn trong chỉ chú tâm vào việc khai hoang, quân bộ không có bao nhiêu, chiến thuyền vỏn vẹn mươi chiếc nên không biết làm thế nào để đương đầu với quân Mạc. Lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng có nàng hầu xinh đẹp tên là Ngô Thị Lâm, nên liền nghĩ đến kế mỹ nhân và sai nàng mang lễ vật và tư thông với Lập Bạo. Sau đó Thị Lâm đánh lừa đưa Lập Bạo đến nơi Nguyễn Hoàng bố trí trận địa phục kích. Lập Bạo chỉ mang theo 30 lính hộ vệ nên không chống được quân mai phục và bị bắn chết khi định lên thuyền chạy trốn. Trịnh Cối nghe tin vội trở ra Bắc. Từ đó nhà Mạc không nghĩ đến chuyện cho quân vào đánh Thuận, Quảng nữa.
Từ khi Trịnh Kiểm đau ốm rồi mất cho đến năm Canh thìn (1580), suốt hơn 10 năm trời Trịnh Tùng lo củng cố quyền lực nên tập trung vào việc phòng thủ vì vậy không tấn công ra Bắc. Trái lại, năm nào Mạc Kính Điển cũng dẫn quân vào đánh Thanh Hoa, Nghệ An. Các cuộc tấn công hầu hết bằng đường biển và thường vào mùa thu là lúc nước các con sông dâng cao, thuyền chiến dễ đi sâu vào trong nội địa. Động binh liên tục, tỏ ra có ưu thế nhưng Bắc triều không những không giành được thắng lợi nào to lớn, trừ trận năm Canh ngọ (1570) mà nhiều phen còn thua trận nên chỉ khiến cho sức người kiệt quệ. Thế nhưng vua Mạc lại nghĩ Nam triều không đủ sức đánh ra Bắc, đồng thời ỷ vào Mạc Kính Điển nên chỉ ham chơi bời, đắm say tửu sắc, không để ý đến việc nước. Thượng thư Bộ Hộ kiêm Đô ngự sử Giáp Hải lấy làm lo lắng, lại thấy liền trong hai tháng 9 và 11 năm Đinh sửu (1577) sao chổi xuất hiện ở tinh phận các sao Đẩu, Cơ, Ngưu, Nữ, đuôi kéo dài tới 40 trượng, lần đầu vài chục ngày mới tắt, lần sau đến tận tháng 12 mới tắt nên dâng sớ lên vua rằng: Sao chổi là loại sao yêu quái, sao chổi lần này khi xuất hiện vừa to vừa dài, tất trong nước sẽ có tai biến nặng nề. Đã thế, hiện nay chính sự càng ngày càng suy đồi, vì vậy nếu không tự răn mình lo sợ, thay đổi hết chính sự thối nát, thì ngày bại vong khó mà tránh được. Mạc Mậu Hợp đọc nhưng không xem là quan trọng.
(Còn một kì cuối)
L.V.K