Có lẽ trong hành trình sáng tạo thi ca, mỗi tập thơ thường là một trạm dừng chân để người cầm bút ngoái nhìn lại chặng đường đã qua. Với nhà thơ Trần Đức Trí, tập thơ thứ ba mang tên “Bến thời gian” (NXB Hội Nhà Văn – 2025) chính là một cột mốc mang ý nghĩa đặc biệt. Ra đời khi tác giả đã bước qua tuổi 70, tập thơ gồm 70 bài là sự gom nhặt những buồn đau, hạnh phúc của cả một đời người, từ bản thân, gia đình đến người thân, bạn bè và đồng đội.
Đến với thơ như một cơ duyên định mệnh, cách đây hơn 30 năm, khi gặp gỡ nhà thơ Trần Nhuận Minh tại cảng Hòn Gai – Quảng Ninh, Trần Đức Trí đã từng bước được dìu dắt vào làng văn đất Việt. Bắt đầu từ việc gom những bài thơ viết rải rác suốt gần 40 năm trước đó thành tập thơ đầu tay “Hoa Vườn ngoại” (2014) , cho đến tập “Lửa thu” (2016) và chính thức trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 2019. Cùng với cuốn hồi ức “Trong bão” (2022), tập thơ “Bến thời gian”được xuất bản là sự tiếp nối đầy đặn và chín muồi của dòng chảy lao động nghệ thuật ấy.
Đọc tập thơ “Bến thời gian” của Trần Đức Trí, bạn đọc có thể cảm nhận được những mạch nguồn cảm xúc chủ đạo mà trước tiên phải nhắc tới là sự bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng tác giả nên người. Trần Đức Trí dành những vần thơ đầy xúc động về người mẹ tần tảo gánh vác cuộc đời con (“Mẹ chín lăm tròn, con bảy mươi / Bao nhiêu trăng xuống, nắng lên rồi”) , hay xót xa nghẹn ngào khi mẹ rời xa cõi tạm, bỏ lại quang gánh và cánh đồng. Có thể nói, bài thơ “Mẹ ơi” thể hiện nỗi xót xa của tác giả giữa cõi nhân sinh. Đây là một khúc vãn ca đầy nước mắt dâng lên hương hồn người mẹ. Tác giả ví von sự ra đi của mẹ như một người rời khỏi “chợ đời mênh mông” khi phiên chợ đã tan. Những câu thơ khắc họa sự hy sinh thầm lặng của mẹ: mẹ bỏ lại cánh đồng, bỏ lại quang gánh mà không mang theo bất cứ thứ gì, bước đi nhẹ nhàng để lại những chênh chao thương nhớ cho người ở lại. Sự tương phản cay đắng giữa hình ảnh người con được đi vẫy vùng giữa “biển rộng sông dài” trong khi mẹ hiền giờ đây chỉ nằm lặng lẽ trong “vài thước vuông” đã đẩy sự day dứt của bài thơ lên đến cao trào. Hai câu thơ “Tử sinh trong cõi vô thường / Giọt đời thì vắn, giọt thương thì dài…” đúc kết một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc về sự hữu hạn của đời người và sự vô hạn của tình mẫu tử.
Còn bài thơ “Nửa đêm” của Trần Đức Trí như một vết thương chiến tranh tàn khốc. Bài thơ khai thác nỗi đau tột cùng của di chứng chiến tranh thông qua cái nhìn đầy bất lực và cay đắng của một người cha. Trong không gian tĩnh lặng của nửa đêm, người cha dốc bầu rượu tâm tình dưới trời sao Ngân Hà lã chã rơi như đang khóc thương cho phận người. Nỗi đau hiện hình qua hình ảnh người con trai trong giấc ngủ, với dáng vẻ “còng queo rồi lại duỗi dài ngẩn ngơ”. Nó là sự trớ trêu của số phận khi người cha ra chiến trường ngày ấy không hề hay biết mình đã mang theo “mầm chết” bù trì vào cuộc đời của đứa con vô tội. Hai câu thơ cuối “Chiến tranh vung lưỡi gươm dài / Cứa vào đời mẹ mà mài đời con!” là một trong những câu thơ ám ảnh và mang sức tố cáo mạnh mẽ nhất trong tập thơ. Hình ảnh này cho thấy nỗi đau chiến tranh không dừng lại ở thế hệ trước mà còn tiếp tục di truyền, cào xé nát cuộc đời của cả những thế hệ sinh ra trong hòa bình.
Từng đi qua nhiều năm tháng chiến tranh, nhà thơ Trần Đức Trí luôn khắc khoải một niềm nhớ thương đồng đội. Trở lại Quảng Trị sau nửa thế kỷ, tác giả rưng rưng nghe tiếng gọi đò vọng về từ dòng sông máu Thạch Hãn đã từng chở bao đoàn quân lên đường. Bài thơ “Tiếng gọi đò” mang âm vọng bi tráng của lịch sử. Bài thơ là tiếng lòng đau đáu của người ở lại khi nghĩ về những đồng đội đã ngã xuống vì đất nước. Hình ảnh tiếng gọi đò từ bờ nam vọng sang bờ bắc giữa đêm đen gợi lên một không gian tâm linh đầy ám ảnh. Dù nửa thế kỷ đã trôi qua và bóng giặc không còn, nhưng linh hồn các anh hùng liệt sĩ dường như vẫn còn quẩn quanh gọi đò nơi bến nước. Tác giả khéo léo nhắc đến những chứng nhân lịch sử như dòng sông Bến Hải êm đềm xuôi về cửa Tùng, hay dòng Thạch Hãn lững lờ trôi về Cửa Việt. Đó là những “con sông máu” tha thiết gọi hồn người, nơi ngọn lửa trong lòng sông vẫn còn cháy khôn nguôi. Câu thơ kết thúc “Đò ơi đò…chở đất nước qua sông!” là một hình ảnh mang tính biểu tượng cao, nâng tầm sự hy sinh của những người lính thành nhịp cầu thiêng liêng nối liền hai miền Tổ quốc.
Nỗi xúc động ấy lại trào dâng khi tác giả sờ lên tường địa đạo Vĩnh Mốc ướt mồ hôi và thấy hình ảnh người lính già khóc vật vã vì thấy mình còn mắc nợ nhân dân.
Tập thơ “Bến thời gian” còn là bức tranh tươi sáng, chan chứa tình yêu quê hương của tác giả là xã Tây Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên. Những địa danh thân thuộc như Phương Công, Cầu Cổ Rồng, sông Kiến Giang hiện lên với diện mạo nông thôn mới hiền hòa, đầy sức sống. Qua tập thơ, tác giả cũng gửi lời cảm ơn trân trọng tới cuộc đời và các bậc đàn anh trong văn giới, đặc biệt là Người Thầy lớn Trần Nhuận Minh.
Với tập thơ “Bến thời gian”, nhà thơ Trần Đức Trí không cầu kỳ về mặt ngôn từ. Thơ ông đi thẳng vào lòng người bởi sự chân thành, mộc mạc được chắt lọc từ những trải nghiệm cốt nhục. Đó là những vần thơ không quá mức gọt giũa hay đánh đố chữ nghĩa. Những bài thơ như thế bật ra từ những rung cảm chân thành, giản dị nhất của con tim tác giả. Dù viết ở thể thơ tự do hay lục bát, ngòi bút của Trần Đức Trí vẫn giữ được nhịp điệu mượt mà, tự nhiên và dạt dào tình cảm. Mỗi bài thơ như một thước phim quay chậm, đưa người đọc trôi về những khoảng trời dĩ vãng lúc thăng trầm, lúc bình yên. Tác phẩm không chỉ là bức chân dung tinh thần của một cá nhân mà còn là tiếng lòng đồng vọng của cả một thế hệ đã nếm trải bao dâu bể thời cuộc. Có thể coi tập thơ như một bến đỗ bình yên để tác giả tạ ơn đấng sinh thành, tạ ơn những người thầy và tạ ơn năng lượng bao dung của cuộc đời. Hi vọng rằng những vần thơ chan chứa tình người này sẽ nhận được sự đồng cảm và sẻ chia sâu sắc của bạn đọc gần xa.
- K.