Chương Năm
Vào một đêm không trăng không sao, vua Biđa cùng tướng Quýt nai nịt gọn gàng trong bộ quần áo đen của khách dạ hành đi ra khỏi cung, làm một cuộc vi hành “tìm niềm vui” theo lời khuyên của nữ tì Hồng Tước. Hai người lặng lẽ men dưới chân lăng Cẩm Sa, vua Biđa ngước mắt nhìn lên, ngài thấy chiếc lăng đen sì, trơ vơ và cô độc trong đêm. Ngài chạnh lòng nghĩ đến con gái, nghĩ đến mình. Vua thở dài. Tưởng Quýt định tiến lên hỏi rõ sự tình. Vua làm hiệu im lặng, ngài thì thào “Khanh nên nhớ, lúc này đừng để lộ ra ta là vua, tuyệt đối đấy, kệ ta”. Tướng Quýt khẽ cúi đầu phụng mệnh. Vua tôi lại vòng qua quảng trường Linh Ta. Quảng trường vắng lặng, thỉnh thoảng có vài đống lửa lim dim, soi rõ những bóng người ngồi quanh. Vua vẫy tướng Quýt lại gần một đống lửa đang tàn có những người gày gò, mặt mày hốc hác, áo quần khoác trên người là những mảnh giẻ bẩn thỉu, hôi hám ngồi quanh.
- Cho chúng tôi ngồi với – vua Biđa hỏi xin một người cao lớn đang bẻ củi.
- Vâng, mời hai ngài.
- Sao đêm khuya các vị lại ở đây?
- Chúng tôi làm gì có nhà. Ngày thì đi vớ vẩn vớ được cái gì, xin được cái gì thì ăn, tối thì về đây. Thôi thì cũng là một kiếp người. – Người cao lớn vẫn không nhìn lên, nói chủng chẳng như giận dỗi điều gì.
- Đây là chỗ tôn nghiêm. Quảng trường Linh Ta – noi lễ khải
hoàn đã diễn ra 15 năm về trước.
- Sao chúng tôi lại không biết. – Một người bé nhỏ như đứa trẻ đang nằm co quắp bật dậy, vua tôi giật mình khi nhìn thấy trên khuôn mặt dài choắt do đôi mắt quá to đang sáng lên vì hình ngọn lửa chập chờn trong đó.
- Quảng trường Linh Ta. Trời oi, oai hùng làm sao, tiếng trống, tiếng vó ngựa, đại tướng Vu Gia, tể tướng Than Nga, chiến công của cả một thời. Thiên hạ nô nức, ngay cả cái thằng tôi cũng vui mừng. Thế mà mười lăm năm qua cái xứ sở này lụi bại, xơ xác tiêu điều đi. Dân thì đói, quan thì tham, vua thì ngớ ngẩn.
Vua Biđa bấm mạnh vào tay tướng Quýt khi thấy viên tướng chạm tay vào đốc kiếm. Ngưòi mắt to rất tình cưòi nhạt:
- Thôi đi ngài, ngài cứ việc tâu vua, lôi thằng này ra pháp trường Ba Sa. Chết ư? A ha, có khi lại hay hơn sống, thế này mà gọi là sống ư? Vợ con ta đâu, nhà của ta đâu?
- Dạo đó ông làm gì?
- Ta là lính, vị kia cũng là lính.
Người cao to nhếch mép.
- Còn đây nữa là thầy giáo, thầy Khuyên hẳn hoi đấy.
- Đừng nói nữa – thầy đồ Khuyên gục mặt xuống – “ngôn ngữ bất thành lực”, “lực bất tòng tâm”. Tôi ngủ đây.
- Sao ngài không dạy học?
- Ngài hỏi tôi? – Thầy Khuyên lại nhỏm dậy – Ô hô hố! Học, cái xứ sở Ti Thu hiếu học, trọng thầy này đã lộn tung theo từ lâu rồi thưa ngài. Vua vô học nên không trọng học, vua bất tri lý nên bỏ luật. Người có học sống nhục nhã hon kẻ vô học, kẻ lừa đảo sống xênh xang hon một người lương thiện. Có tiền thì làm được mọi chuyện, vậy thì có trí để làm gì. Trẻ con nhìn vào đó mà sống, vì thế nên chúng nó chê bai học hành, đánh thầy đồ, đi ăn cắp, đi giết người. Muốn làm hại ai cũng lấy uy vua ra làm. Đấy, tâm đã mất, trí đã mất còn gì nữa. Thôi, chào hai ngài, tôi chìm vào giấc Nam Kha đây, tôi mong trong giấc ngủ có một bữa ăn no, một lớp học có những trò hiền lành, mặt mũi sáng sủa ngồi dưới rặng trúc. Tiên quân oi, tiên quân đâu rồi. Những triều vua anh minh nghiêm chỉnh đâu rồi?
Thầy Khuyên ôm mặt khóc rưng rức, khóc chán ông thiếp dần đi. Vua Biđa cắn chặt môi mình, thì vừa lúc đó, từ phía ngoài đường một tiếng kêu thảm thiết vọng lại. Tướng Quýt định đứng dậy. Người to lớn vẫy tay:
- Ngài chưa đến số đâu. Cứ tránh cho xa. Đêm nào chả như
thế.
- Chuyện gì đấy?
- À, ăn cướp, hãm hiếp, rồi giết người. Chúng tôi thì quen tất cả rồi, ở quảng trường, việc tầy trời, lạ lẫm ra sao đều có thể xẩy ra.
- Thế sao các ngài không cứu họ?
- Chúng tôi quý mạng mình hơn dù sống nhục sống nhã thế này, vì chúng nó là cướp, kẻ cướp ấy lại thân quen với các quan.
- Thế xác nạn nhân?
- Sông lớn là mồ chôn chung thưa ngài, bỏ xuống đất thì phận bèo bọt lại vẫn là bọt bèo. Để lên ngai thì thành đế thành vương.
- Không được! – Vua Biđa bật dậy, tướng Quýt đứng theo. Vua tôi lao về phía có tiếng kêu.
Người bé nhò nhìn theo hai người, thụt đầu lại.
- Họ đến giờ đi nộp mạng hả?
N.H