Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet giriş Grandpashabet güncel giriş grandpashabet login grandpashabet marsbahis Backlink Al grandpashabet grandpashabet giriş grandpashabet güncel giriş ts3 satın al tamer sağıroğlu Tekirdağ Avukat Tekirdağ Reklam prof. dr. tamer sağıroğlu Tekirdağ Cerrahi Organik Hit Hitbot google search console Hitbot google search console Wapflow wapflow whatsapp Tekirdağ Cam Balkon

Bản sắc Quảng Ninh trong thơ Hoài Khánh: Nguyễn Quốc Hùng

 

Sáng tác 28 bài thơ trong tập “Thành phố phía ban mai” (Nhà xuất bản Văn học – 2026) nhà thơ Hoài Khánh thêm một lần khẳng định thành quả đạt được sau những năm gần đây dành nhiều tâm huyết viết về các miền quê đất nước. Tập thơ này là một bức tranh bừng sáng, một bản hòa ca đầy kiêu hãnh và say đắm về đất và người Quảng Ninh, địa phương giàu đẹp ở miền Đông bắc Tổ Quốc vừa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với đà phát triển mạnh mẽ và vững chắc trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Bằng ngòi bút chân thành, nhịp thơ dạt dào cảm xúc, tác giả đã dẫn dắt người đọc đi qua những chiều không gian và thời gian khác nhau của vùng đất mỏ anh hùng, nơi truyền thống và hiện đại đan xen, nơi núi non, biển cả và con người cùng hòa chung một nhịp đập.

Giới thiệu được toàn cảnh địa lý – văn hóa Quảng Ninh, mở đầu tập thơ, bài “Khúc tráng ca chào thành phố mới” đã xác lập giọng điệu chủ đạo cho cả tập. Hoài Khánh chọn thể thơ tự do, câu dài ngắn không đều, tiết tấu dồn dập như một khúc quân hành, phù hợp với chất “tráng ca” mà nhan đề đã gọi tên. Đây là lựa chọn thể loại có chủ đích: một bài lục bát êm đềm sẽ không đủ sức chứa đựng quy mô không gian bài thơ bao quát từ than trong lòng đất tới sóng khơi xa, từ Vân Đồn tới Bình Liêu. Câu mở đầu về than “giữ lửa trong lòng đất” đối xứng với sóng khơi xa “gọi tên những con tàu” thiết lập ngay từ hai câu đầu tiên đã nêu biểu tượng kép định vị bản sắc Quảng Ninh với đất mỏ và biển cả, chiều sâu và chiều xa, tĩnh và động. Đây là một thủ pháp mở bài rất tinh tế, chỉ hai hình ảnh đã nén được toàn bộ địa lý, văn hóa cả tập thơ sẽ triển khai.

Từ cái nền lưỡng cực ấy, bài thơ tiếp tục mở rộng theo phép liệt kê địa danh có chọn lọc: Vân Đồn, Hạ Long, Bái Tử Long, Yên Tử, Bình Liêu lần lượt xuất hiện, mỗi địa danh được gắn với một hình ảnh đặc trưng riêng. Hải đảo Vân Đồn “mở cửa ra thế giới’’. Non thiêng Yên Tử với “mây trắng bay thành hoài bão”. Vùng cao Bình Liêu với “ngàn cây… xanh lá thức biên phòng”. Cách liệt kê này không đơn thuần là điểm danh địa lý mà mỗi địa danh đều được nhân cách hóa hoặc gắn với một động từ – trạng thái tinh thần, biến tấm bản đồ hành chính thành một tấm bản đồ cảm xúc.

Điều đáng chú ý là ở giữa mạch hình ảnh sử thi – phong cảnh, nhà thơ luôn kéo được ống kính về phía con người cụ thể: “Thợ mỏ khơi lò đen óng những tầng than”, “ngư dân vươn khơi giữa bão giông”, “người lính nơi cuối rừng đầu sóng”. Ba hình ảnh lao động – canh giữ này được đặt liền nhau như một bộ ba biểu tượng cho ý chí Quảng Ninh: khai thác, mưu sinh, bảo vệ. Câu thơ “ý chí chưa hề khuất phục trước gian nan” đúc kết phẩm chất chung của cả ba lớp người ấy, cho thấy bài thơ không ca ngợi vùng đất một cách trừu tượng mà luôn quy chiếu về phẩm chất con người.

Đoạn “lịch sử chảy trong từng mạch nước / Cọc gỗ Bạch Đằng vọng tiếng ngàn xưa” là bản lề quan trọng của bài thơ, nối liền quá khứ hào hùng (chiến thắng Bạch Đằng) với hiện tại đang kiến thiết. Ngay sau đó, nhịp thơ chuyển hẳn sang hình ảnh công nghiệp hóa: “đường cao tốc mở dài như dải lụa”, “cảng biển, sân bay, khu công nghiệp rực sáng”. Phép so sánh “đường cao tốc… như dải lụa” đáng chú ý ở chỗ nó dùng một hình ảnh truyền thống, mềm mại (dải lụa) để gọi tên một công trình hiện đại, cứng rắn – cách nối kết thẩm mỹ cũ – mới này là một đặc điểm bút pháp xuyên suốt của Hoài Khánh, còn được lặp lại ở nhiều bài khác trong tập.

Bài thơ khép lại bằng câu hỏi tu từ mang tính khẳng định: thành phố mới “đâu phải một cái tên được ghép lại” mà là hình hài của “giấc mơ đã thành hình”. Câu kết “xin dâng khúc tráng ca chào thành phố mới / Trí tuệ, niềm tin rực sáng Quảng Ninh” vừa gọi lại đúng nhan đề bài thơ (kết cấu đầu – cuối tương ứng), vừa đặt ra hai từ khóa “trí tuệ” và “niềm tin” sẽ trở đi trở lại như một chủ đề lớn trong các bài “tráng ca” khác của tập (như “Thành phố gọi ta đi tới!” hay bài thơ “Thành phố phía ban mai”). Xét về vị trí trong bố cục toàn tập, đây đúng nghĩa là một “lời chào” trang trọng, bao quát, và gieo sẵn những hạt giống hình ảnh, chủ đề mà những bài sau sẽ tiếp tục khai triển ở tầm mức cụ thể hơn.

Nếu bài thơ “Khúc tráng ca chào thành phố mới” là một bản nhạc mạnh, nhiều bè, thì bài thơ “Hội xuân Yên Tử” lại là một nốt lặng có chủ đích ngay sau đó. Sự tương phản này không phải ngẫu nhiên trong cách sắp xếp tập thơ: sau khi phác họa toàn cảnh náo nhiệt của công cuộc dựng xây, nhà thơ đưa người đọc lên núi, vào không gian tĩnh tại của một ngôi chùa cổ, như một nhịp thở chậm cần thiết. Đây là ví dụ rõ cho thấy cấu trúc toàn tập được tổ chức theo nguyên tắc luân phiên động – tĩnh, hiện đại – cổ kính. Bài thơ “Hội xuân Yên Tử”, tả cảnh lễ hội và là cách nhà thơ khẳng định bản sắc Quảng Ninh không chỉ nằm ở than và biển, mà còn ở chiều sâu văn hóa – tâm linh ngàn năm, một mạch nguồn cần được gìn giữ song song với công cuộc phát triển hiện đại.

Đến với tập thơ “Thành phố phía ban mai”, bạn đọc sẽ được thấu hiểu ba mạch cảm xúc chủ đạo. Trước nhất, Hoài Khánh đã đắm mình với thiên nhiên kỳ vĩ và linh thiêng.Nhà thơ đã dệt nên một dải lụa thi ca trải dài từ mái đình Trà Cổ uy nghiêm nơi địa đầu, mây trắng bồng bềnh trên đỉnh Yên Tử linh thiêng, đến sóng nước Bái Tử Long, vịnh Hạ Long lung linh huyền ảo. Đặc biệt, biển đảo quê hương hiện lên muôn màu muôn vẻ với một Cô Tô hoang sơ mà nồng nàn, một Vân Đồn êm ái và những “Làng đảo” thấm đẫm hơi thở mặn mòi của đại dương. Thứ hai, Hoài Khánh đã khắc họa những bức chân dung con người dung dị mà oai hùng. Ở trung tâm tập thơ là hình tượng những con người lao động kiên cường. Đó là người thợ mỏ với trái tim rực lửa, mang trong mình phẩm chất “Kỷ luật và Đồng tâm” truyền thống. Đó là người cha xóm chài với cánh tay sần muối biển. Đó là cô giáo, cô phóng viên bám trụ nơi sóng gió tiền tiêu. Họ chính là những viên than đen nhánh ẩn chứa sức mạnh làm rạng rỡ vùng đất này. Thứ ba là tác giả làm nổi bật khát vọng vươn mình của một thành phố mới. Vượt lên trên những vần thơ trữ tình mộc mạc, tập thơ là tiếng vọng vang dội của thời đại mới. Quảng Ninh qua góc nhìn của Hoài Khánh đang cất cánh bằng những cây cầu nối nhịp đôi bờ, những đại lộ thênh thang và một sức vóc cuộn trào từ ý chí của hàng triệu con người.

Giọng thơ của Hoài Khánh khi thì hào sảng, cuộn trào như sóng vỗ bờ, khi lại thủ thỉ, sâu lắng như lời tự tình của đôi lứa yêu nhau bên cầu Tình Yêu hay dưới bóng chiều Hoành Bồ. Sự kết hợp hài hòa giữa chất “tráng ca” và “tình ca” đã làm nên sức hút đặc biệt cho tác phẩm.

Những bài thơ trong tập dù khác nhau về thể loại (thơ tự do phóng khoáng, lục bát truyền thống, thơ tám chữ có nhịp điệu đều đặn) và khác nhau về quy mô đề tài (từ toàn cảnh một vùng đất tới một số phận cá nhân), đều gặp nhau ở một cấu tứ chung: Lấy hình ảnh thiên nhiên, địa danh Quảng Ninh làm cái nền, rồi gửi vào đó tình cảm với con người lao động (thợ mỏ, ngư dân, người cha, người mẹ) và niềm tin vào sự chuyển mình của vùng đất thân yêu ấy.

Về mặt hình ảnh, có thể nhận ra một số trường liên tưởng lặp lại có chủ đích xuyên suốt tập: trường ánh sáng (sao, lửa, nắng, ban mai) gắn với cả than lẫn biển lẫn tâm linh; trường muối (nước mắt, mồ hôi, biển) gắn với những vất vả của người lao động; trường “vỉa” và “mạch” (vỉa than, mạch nước, mạch đất) nối liền hình ảnh địa chất với hình ảnh lịch sử – văn hóa chảy ngầm trong lòng đất. Sự lặp lại có ý thức của các trường hình ảnh này là sợi chỉ đỏ kết dính những bài thơ tưởng như rời rạc về đề tài thành một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất.

Về giọng điệu, thơ Hoài Khánh trong tập vừa mang tính công dân – sử thi (đặc biệt rõ ở các bài mang chức năng mở/đóng khung như bài “Khúc tráng ca chào thành phố mới” và bài “Thành phố phía ban mai”, vừa có những khoảnh khắc trữ tình sâu lắng, riêng tư, thậm chí trầm buồn (như các bài “Xóm chài có cha tôi”, “Hội xuân Yên Tử”). Chính sự luân phiên có tính toán giữa hai âm vực này, lúc vang lên như một khúc tráng ca tập thể, lúc lắng xuống như một lời thì thầm cá nhân. Chính đấy là yếu tố quan trọng nhất làm nên sức hấp dẫn và chiều sâu đa tầng của cả tập thơ.

Làm rõ bản sắc Quảng Ninh, tập thơ “Thành phố phía ban mai” của Hoài Khánh thực sự là một món quà tinh thần ý nghĩa, một lời tự tình sâu sắc dành tặng cho thành phố bên vịnh Hạ Long đang không ngừng chuyển mình rực rỡ đón ánh bình minh.

N. Q. H.

 

 

 

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder