Grandpashabet marsbahis Backlink Al taraftarium taraftarium24 canlı maç canlı maç izle Satılık araba ikinciel araba Tekirdağ Cam Balkon tekirdağ reklamcı tekirdağ reklamcı Kilis Kilis Kilis tekirdağ reklamcı Beylikdüzü Masaj Beylikdüzü Masaj Beylikdüzü Masaj Beylikdüzü Masaj tekirdağ tabelacı

Trịnh Đình Bích: Hồn thơ níu giữ người về – Trương Minh Hiếu



1- Nhà giáo, nhà thơ
Nhà thơ Trịnh Đình Bích nguyên là giảng viên môn Động cơ Diesel tàu thủy, khoa Máy tàu biển, trường Đại học Hàng hải Việt Nam.
Năm 1972 rời mảnh đất Thanh Hoá ra Hải Phòng học tập tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam, rồi trở thành kỹ sư, được giữ lại trường làm công tác nghiên cứu và giảng dạy. Hơn 35 năm sống, học tập và làm việc nơi thành phố Cảng, người giảng viên ấy cũng thi thoảng làm thơ ghi lại cảm xúc trước vẻ đẹp thiên nhiên, con người, nỗi nhớ quê hương, tình đồng nghiệp và tình cảm thầy trò. Thơ không gửi đăng báo hay in thành sách, anh chỉ âm thầm lưu giữ cho riêng mình. Mãi đến khi nghỉ hưu năm 2014, nhà giáo Trịnh Đình Bích mới thực sự dành thời gian cho “viết lách” và trở lại mặn mà với văn chương. Rồi, như một vỉa tầng tự phát lộ mạch ngầm quý hiếm, những dòng thơ cứ dạt dào tuôn chảy. Được người thân và bè bạn động viên, tập thơ đầu tay “Sóng lặng” trình làng vào năm 2017. Tiếp nối trong 9 năm sau, nhà thơ Trịnh Đình Bích, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng đã ra mắt bạn đọc ba tập thơ: “Ráng chiều”, “Đồng vọng” và “Lối về”. Và, tôi đang vinh dự có trong tay tập thơ mới nhất của anh: “Lối về” – NXB Hội Nhà văn, 2026 viết về tình yêu và nỗi nhớ gia đình, quê hương, bè bạn và những chiêm nghiệm về cuộc sống thường ngày.
2- Bóng dáng người thầy thấp thoáng hồn thơ
Mấy người bạn của tôi từng là sinh viên của nhà giáo Trịnh Đình Bích kể lại rằng, thời đi học, không ai biết “thầy giáo của mình” làm thơ. Nhìn dáng vẻ của thầy, nghiêm khắc mà gần gũi, trí tuệ và hồn hậu; hoặc là khi nghe thầy giảng bài, thấy được sự khúc triết, mạch lạc của con số nhưng cũng cảm nhận sự gần gũi ở hình ảnh của những cỗ máy phức tạp, hay cả một con tàu đồ sộ trên biển khơi; từ những tiếng động cơ đến những thuật toán tưởng như rời rạc mà gắn kết, rất đơn giản, đời thường nhưng ẩn chứa triết lý sâu xa:
Khi ta cộng, tóc trắng thêm vài sợi
Biết cách trừ, cùng góp lại yêu thương
Mong cứ mãi, thay cho nhân cộng lại
Chẳng hề chia, trọn vẹn một con đường
(Cộng trừ)
Lạ thế, những bài giảng về kỹ thuật hàng hải, cấu trúc con tàu, cấu tạo máy móc, chủng loại dầu mỡ, rồi quy luật của đại dương bao la, của gió bão bất ngờ, hay là thủy triều lên xuống, nhiều khi tưởng là to tát, vĩ đại nhưng gần gụi vô cùng, ngỡ như nắm được trong lòng tay thật dễ dàng. Hãy xem thiên nhiên, trời đất trong thơ Trịnh Đình Bích:
Nắng trên đầu và đất ở dưới chân
Ta cầu nối cho vòng tròn trời đất
Nắng là dương, còn đất là âm thật
Giữa là ta cân cả đất và trời
(Trời và đất)
Tôi cứ hình dung những cô, cậu sinh viên mười tám, đôi mươi chưa một lần lênh đênh trên biển, trước cuộc đời bao la, trước mênh mông kiến thức, hầu hết những boong tàu, mỏ neo, động cơ hay pa – lăng, dây xích…, có khi mới chỉ gặp lần đầu hoặc đâu đó trong trí tưởng tượng vô cùng phong phú của tuổi trẻ, thì việc tiếp thu kiến thức là rất “khó nhằn”. Thế nhưng, người thầy mà tâm hồn luôn âm vang vần điệu của ngôn từ và muôn màu, muôn khối của hình ảnh thì có khi lại vô cùng “dễ thở”:
Không thấy gì dù nhìn mãi xa kia
Đường chân trời: trò đùa của thiên nhiên, tạo hóa
…
Đành vui vẻ vạch một đường quy ước vậy
Để khỏi băn khoăn chưa tìm thấy chân trời
(Chân trời)
Ở đây, tôi đồ rằng, “chân trời” không phải là điều mà chúng ta thường nói với nhau khi đứng trước biển hay trong không gian núi non hùng vĩ, mà là bao la kiến thức trong hành trình nắm bắt và ghi nhận của sinh viên, lượng kiến thức này là hoàn toàn có thật, là lý thuyết và thực tế, là lý luận và thực hành, với quy ước, quy chuẩn hay công ước, điều lệ, là bản vẽ kỹ thuật rối rắm và muôn vàn con số khô cứng, rời rạc. Ngày hôm nay, khi mà chưa đủ nhiều thời gian để học hỏi thì chúng ta hãy bình tĩnh, hãy “quy nạp” những phức tạp thành đơn giản, hãy tự “đưa” mình về tâm thế của người đang “mỏng” về kiến thức nhưng “dày dạn” ý chí vươn lên hoàn thiện mình, đừng có băn khoăn hay lo lắng, cứ tiến về phía trước với niềm tin là sẽ về tới đích. Ừ, đằng sau bài giảng của thầy mà thấp thoáng “lời khuyên” như vậy thì sinh viên nào mà chẳng say sưa học tập!
Trong lý thuyết và thực hành về động cơ diesel nói riêng và máy tàu biển nói chung, tôi khẳng định là không có khái niệm “đắng cay” hay “hạnh phúc”, nhưng với tâm hồn thi sĩ có sẵn trong “trí tuệ người thầy” thì chắc chắn lời giảng của nhà giáo Trịnh Đình Bích sẽ đọng lại dư âm về sự kín kẽ và triết lý sâu sắc gửi tới các lứa sinh viên, gợi mở và hun đúc cho họ ý thức tự giác rèn luyện và cống hiến. Ý thơ đơn giản, hình ảnh thực tế, vần điệu logic và đúng niêm luật ở mỗi thể thơ sử dụng nhưng không phải nhà thơ nào cũng viết được:
Trước biển cả mênh mông
Lí giải về hữu hạn
Hiểu những điều nông cạn
Trước sâu thẳm đại dương
(Trước biển)
Và:
Bạc đầu chớ vội rằng tài
Tròn đầu ai đã một hai mới là
(Sóng biển)
Hay là:
Đủ cay đắng ngọt bùi chát mặn
Hạnh phúc là luôn cảm ở tâm thôi
(Chỉ là hạt cát)
3- Hoài niệm để về với cội nguồn
Ngay trang đầu tiên của cuốn sách, như một lời tựa, Trịnh Đình Bích “tâm sự”:
Những bước chân hăm hở
Ta tìm lại lối về
Gần hết đời nửa tỉnh nửa quê
Nay tìm lại cái mình từng để mất!
(Lối về)
Có lẽ, sự hoài niệm và tình yêu với quê hương, nỗi nhớ “ngày xưa” thể hiện rất rõ ở nhiều bài, như: Làng, Đêm Sầm Sơn nhớ biển, Chiều thu Sầm Sơn, Chốn cũ ta về, Phiên chợ Tết, Ký ức hè quê… Tôi hiểu, người trai nơi vùng đất nghèo “Nông Cống, tỉnh Thanh”, khi quyết định rời quê từ những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt 1972 “đi tìm sự nghiệp nơi đất khách quê người” ồn ào, sóng gió, chắc chắc sẽ nặng lòng và dễ bị níu kéo tâm tư bởi những kỷ niệm càng gian nan, khốn khó từ thời “chăn trâu, cắt cỏ” càng sâu sắc không dễ nhạt phai.
Nhà thơ hoài niệm về quê hương với thật nhiều cảnh vật và con người, như: cô bé hàng xóm: Nhớ em ngày bé vẫn sang trốn tìm – (Ký ức hè quê); người mẹ tảo tần, lam lũ mà không bao giờ kêu ca, phàn nàn: Mặc cho chân vấp chẳng kêu/ Chạy mưa mẹ chạy cả chiều bão giông – (Cơn mưa đằng đông); người cha cần cù, nhỏ bé đấy nhưng mạnh mẽ vô cùng: Cha vác cuốc ra đồng tháo nước/ Bước khum khum đất bùn trơn trượt/ Dáng cha đi làm nghiêng cả chân trời – (Nhớ mưa xưa).
Có ai đi xa quê mà không nhớ về quê! Có ai khi đủ đầy lại không hoài cổ mà biết ơn những tháng ngày gian nan, vất vả, bởi “thức lâu mới biết đêm dài”! Nỗi nhớ quê và những người thân nơi xóm nghèo thuở nhỏ, mỗi lối ngõ, vườn cây, mỗi khúc sông, bãi cỏ, hay liêu xiêu tiếng chim chiều về tổ và tiếng sáo thức vòng vọng trưa hè… Tất cả dù bé nhỏ nhưng cùng tụ về thành bao la miền nhớ, dù xa lắc lơ cũng neo đậu thành âm vang hối thúc. Yêu mê mẩn. Nhớ quắt quay. Thương tha thiết, bàng hoàng. Hình bóng ấy hiển hiện càng sâu nặng khi mỗi bước ra đi thưa vắng nẻo về, khi mái đầu ngày xanh xưa giờ đổi màu phơ phếch bạc. Phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo để “sản sinh” ra những kỹ sư hàng hải, những thuyền trưởng, máy trưởng, hay những kỹ sư trưởng cho ngành chế tạo tàu biển và ngành vận tải hàng hải của đất nước, nhà giáo Trịnh Đình Bích đã đi trọn vẹn hành trình làm thầy nơi giảng đường đầy rẫy trăn trở và lo toan, nhưng cạnh đó là những vinh quang được ngành và nhà trường ghi nhận, được các thế hệ sinh viên mang theo suốt cả cuộc đời. Dẫu sao, lúc hoàn tất thủ tục nghỉ hưu theo chế độ của Nhà nước cũng là lúc tâm tư lại vơi đầy, xao động. Ký ức dội về như những làn sóng dìu dặt táp lên mạn tàu, như tiếng hải âu chìm giữa mênh mông đại dương một âm thanh lắng đọng và sâu thẳm, như hơi gió thoảng qua nhưng không bao giờ mất.
Hẳn là phố xá có sức hút kỳ lạ với những người dân quê luôn mong muốn vươn lên, những người cha, người mẹ mong muốn con cái được học hành nơi có tiện nghi đầy đủ hơn, cơ hội nghề nghiệp phong phú hơn. Năm 1983, người vợ hiền chung quê của nhà thơ mới khăn gói cùng hai con ra Hải Phòng, làm hậu phương “liền kề” và vững chắc để Trịnh Đình Bích tiếp tục con đường học vấn, hoàn thành tấm bằng thạc sĩ. Đường đời, phải chăng càng đi thì càng xa, nhưng trên hành trình dài xa ấy, nỗi niềm càng đắp đầy “không gian của cảm xúc”. Gia đình sum họp không còn “một chốn, đôi nơi”, để rồi Trịnh Đình Bích vừa làm tròn trọng trách của nhà giáo, vừa ấp ủ cho riêng mình vườn thơ mà hôm nay đã vào mùa đơm hoa kết trái.
Thơ chính là tiếng lòng của nhà thơ, khắc khoải khi nhớ nhung, bồn chồn khi mong ngóng, nhưng cũng rất nhẹ nhàng khi tự biết an phận chẳng chút ganh đua. Có như thế, đời người mới trọn vẹn nghĩa tình, công việc và gia đình, trước sau và mãi mãi. Thì đây, Trịnh Đình Bích: Ngơ ngẩn nhớ lặng thầm bờ bãi – (Sóng và bờ), và Chợt nhớ đến mùi trầm khêu vị Tết/ Háo hức chờ pháo nổ sớm mai quê – (Nhớ Tết xưa), đã:
Quay quắt trong lòng kỷ niệm thôn quê
Nhớ, nhớ lắm những người thủy chung son sắt
(Làng)
Tiếc đấy, mà không nuối, bởi đơn giản mà:
Mười phần giờ còn lại
Nhớ được năm bảy phần
(Thơ viết trong buổi trưa)
Và hy vọng tràn đầy:
Bao giờ tìm được câu thơ
Trả cho đời những mong chờ, thơ ơi!
(Món nợ trần gian)
Những câu thơ giàu hình ảnh và nhịp điệu, “chất” của ca dao “quê mùa” mềm mại và da diết hơn, đôi lúc thống thiết và day dứt không nguôi khi “gọi thầm” về mảnh đất đã sinh ra, đã lớn lên với bao nhiêu khát vọng. Miền quê nhỏ bé ấy không đủ níu giữ bước chân của người đã từng mơ những giấc mơ lớn, để khi thành đạt (dù chỉ là một chút), họ lại càng mong ngóng trở về.
Trong “Lối về”, với 109 bài thơ, tác giả sử dụng hầu hết các thể loại, như: thơ năm chữ (Phận cỏ, Thơ viết trong buổi trưa, …), thơ sáu chữ (Hương sắc thu, Mưa, …), thơ lục bát (Món nợ trần gian, Viết trước ngày sinh, Thơ cho em, …), thơ thất ngôn bát cú (Mùa xuân, Thu cũ, nhà cũ, Quà quê ốc nhồi, …), thơ bát ngôn (Trời và đất, Thành phố một loài hoa, …) và thơ tự do (Bâng khuâng tháng ba, Hạt gạo, …) và cũng sử dụng nhiều cách gieo vần khác nhau, theo đúng niêm luật từng thể loại. Điều này cho thấy, nghề nghiệp của tác giả nghe như “ngoại đạo” với thơ, nhưng Trịnh Đình Bích đã dày công nghiên cứu và chứng tỏ rất “có nghề”.
*
Gấp lại trang sách cuối cùng của “Lối về”, chúng ta cảm thấy yêu hơn cuộc sống, trọng thêm tình người và mong muốn được sẻ chia cùng Trịnh Đình Bích trong nỗi niềm tha thiết:
Từ quê nghèo ta đã ra đi
Nay đầu bạc lại muốn về quê cũ
Nếu mai sau không còn trên thế gian này nữa
Lại xin về với mảnh đất cha ông
(Làng)
Ước mong cho ý nguyện của nhà giáo, nhà thơ Trịnh Đình Bích trên “Lối về” được như thơ!

T.M.H

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder