Đan Thành
Nịnh Quan trên, Hà Phương chịu cắm sừng
Tranh mĩ nhân, Khánh Dư mang trọng tội…
Đan Thành
Nịnh Quan trên, Hà Phương chịu cắm sừng
Tranh mĩ nhân, Khánh Dư mang trọng tội
Đang nói chuyện Khánh Dư vì sợ mất công chúa Thiên Thụy, định dâng bản tấu không đi tuần biển, có gia thần là Hiếu Ngân đến xin hiến kế. Khánh Dư mừng lắm bảo:
– Ngươi nói rõ mưu kế ta nghe.
Hiếu Ngân nói:
– Đi tuần biển là việc hệ trọng của quốc gia. Hoàng thượng giao cho tướng quân là người rất đề cao ngài. Đó là cơ hội lập công danh, nếu tướng quân không nhận không những làm cho hoàng thượng thất vọng mà còn bỏ mất trách nhiệm của người làm tướng, sao gọi là quân tử. Vả lại tướng quân đã cáo ốm, đâu còn đi gặp công chúa được nữa, có phải hai việc đều nhỡ nhàng không?
– Vậy làm sao bây giờ?
– Hôn lễ của công chúa mãi mùa Đông mới tiến hành, còn năm sáu tháng nữa. Tướng quân đi tuần biển nhanh thì mất ba tháng, chậm cũng chỉ ba tháng rưỡi, bốn tháng là cùng. Lúc bấy giờ về thế nào hoàng thượng chả ban khen, tướng quân nhân đấy tìm công chúa mà tỏ bày tấc dạ, việc sao không thành. Như thế chẳng phải đôi đường lưỡng lợi ư
– Ta e ít thời gian quá, sợ khó xoay chuyển được tình thế.
Hiếu Ngân cười, nói:
– Tướng quân không nhớ chuyện Hưng Đạo vương với công chúa Thiên Thành khi xưa hay sao. Chỉ trong có một đêm mà Hưng Đạo vương giành lại được người mình yêu. Tướng quân và công chúa Thiên Thụy đã nặng tình như thế còn lo gì nữa. Vả lại đi chuyến này kiểm tra các cửa biển, quan sở tại những nơi ấy thường buôn bán với người nước ngoài rất giầu có, nhiều san hô ngọc trai, hổ phách và bao nhiêu của quý khác, thấy người của triều đình đến sao không mang ra biếu.
Khánh Dư như tỉnh ra, bảo:
– ừ nhỉ?
Nói rồi vào triều lĩnh binh đi thừa hành công vụ, mang Hiếu Ngân theo làm mưu sĩ.
Trần Khánh Dư vốn có tài quân sự nên chưa đầy ba tháng đã tuần du khắp các vùng cửa biển, cho củng cố lại những nơi bố phòng còn lỏng lẻo, lại dặn tướng sĩ phải canh giữ nghiêm mật không để kẻ gian ngoại bang vào do thám. Quan lại các nơi ấy muốn lấy lòng Khánh Dư, mang vàng bạc châu ngọc đến biếu rất nhiều đúng như lời dự đoán của Hiếu Ngân nhưng Khánh Dư lòng tham không đáy bắt phải tìm nhiều san hô, mã não, ngọc trai để mang về kinh thành. Dân chúng phải kiếm tìm cực khổ oán giận lắm, về sau nhiều người làm sớ dâng lên triều đình kể tội Khánh Dư tham lam. Tháng tám đến châu Vĩnh Yên, bấy giờ thương khách các nước Qua Oa, Lộc Lạc, Tiêm La và xứ Bắc đến buôn bán ở Vân Đồn đông lắm. Quan tri châu Vĩnh Yên đánh thuế rất nặng các mặt hàng ngoại nhập. Những thứ như xe, rượu ngoại, thuốc Bắc, tơ lụa và nhiều thứ khác tiền thúê nhiều hơn tiền mua. Một chiếc xe đơn mã nhập vào chỉ hết tám quan tiền tỉnh bách nhưng phải nộp thuế tới mười quan tiền thượng cung. Khách buôn phải bán ra với giá trên hai mươi quan tỉnh bách mới có lãi. Một chai rượu hồng mao hay Khổng Phủ nhập vào hai đồng phải đóng thuế hai đồng sáu, vị chi là bốn đồng sáu cộng thêm công vận chuyển, khi đến tay người tiêu dùng lên đến sáu bảy đồng, đại loại là như vậy. Khách buôn không chịu được, tìm trăm phương ngàn kế trốn thuế hoặc đút lót cho bọn lính hải khẩu để đi thoát hàng lậu. Nhiều khách buôn cất cả hàng cũ đến bán. Quan tri châu ra lệnh những hàng chất lượng còn được tám phần thì cho nhập, dưới tám phần tịch thu huỷ bỏ. Bọn lính hải khẩu và lính kiểm hàng nhân đấy bắt chẹt khách buôn, nộp tiền cho chúng hàng có xấu đến đâu cũng đánh cho trên tám phần. Ai không chịu, dù hàng còn tốt như mới chúng vẫn đánh giá chỉ có bảy phần chín trở xuống, thế là phải tịch thu, mất cả vốn lẫn lời. Vì thế bọn lính hải khẩu và kiểm hàng làm giầu nhanh chóng không biết chừng nào, xây nhà cao cửa rộng toà ngang dãy dọc, chiều chiều rủ nhau lũ lượt đến các tửu điếm, kỹ viện thượng hạng để hưởng niềm hoan lạc Bồng Lai nơi trần thế hoặc túm tụm đánh bạc thâu đêm suốt sáng. Khách buôn ai có ý kêu ca hoặc nói năng sơ hở là bị chúng chụp luôn cho cái mũ coi thường pháp luật, gian lận thương mại, hoặc một tội danh rất cha vơ chú váo nào đó. Lúc ấy trời có muốn cứu cũng đành bó tay. Nếu chỉ riêng có thế thì thói quan vơ lính vét cũng là chuyện dễ hiểu, lính hải khẩu còn móc nối với bọn lưu manh vô lại trong chợ và các cảng thuyền, nửa ăn trộm, nửa ăn cướp của khách hàng, rồi tệ cò mồi gây bao điều phiền phức khiến khách buôn đứng đắn tử tế nhiều người ngán ngẩm, làm ăn thua lỗ phải bỏ nghề. Chỉ còn hạng anh chị biết móc nối chặt chẽ với lính hải khẩu để đi hàng lậu mới sống được.
Khánh Dư thấy dân tình làm ăn tấp nập, mức thuế đóng cao mà sổ thuế dâng lên triều đình chẳng đáng bao nhiêu, mới hỏi quan tri châu làm sao lại như vậy. Quan tri châu nói:
– Dân ở đây từ cổ đến giờ rất khó kiềm toả. Họ toàn buôn bán trốn chui trốn lủi không sao thu được thuế. Họ sống dưới thuyền là chính chứ có nhà cửa như người trên cạn đâu mà tróc nã được.
Khánh Dư cười gằn bảo:
– Ông ngu lắm! Đánh thuế cao thế này thì cướp của người ta không bằng, họ không trốn mới là lạ. Ông tưởng làm thế mà thu được nhiều tiền à? Tôi tính thử thế này, ông đánh mười đồng cho một người buôn thì một trăm người chỉ có mười người đóng thuế còn chín mươi người trốn. Vị chi ông thu được một trăm đồng. Nếu ông đánh có hai đồng thôi, ai người ta dại gì chả đóng thuế để bán hàng công khai cho nó được giá, vị chi ông thu được hai trăm đồng, như thế có phải gấp đôi không, mà vẫn được tiếng là nhẹ thuế. Giá hàng giảm xuống đỡ khổ cho người tiêu dùng. Ông thu được nhiều tiền. Người buôn dễ chịu, họ không lẩn lủi buôn lậu nữa. Quan binh đỡ phải nhọc sức lùng bắt, dồn tâm trí vào việc canh phòng giặc cướp chẳng lợi hơn ư?
Quan tri châu bị mắng không dám ngẩng mặt lên, khấu đầu nói:
– Dạ! Dạ! Đại quan dạy rất phải.
Lúc sau Hiếu Ngân nói riêng với Khánh Dư:
– Tướng quân thật thà quá. Làm như tướng quân quan binh còn ăn vào chỗ nào. Người ta muốn cho có nhiều người buôn lậu trốn thuế để còn săn bắt. Tên nào bị bắt tất phải cởi hầu bao xì tiền ra mà hối lộ quan binh mới có thu nhập. Quan tri châu mới có phần quà biếu chứ. Vụ nào bị phanh phui lanh tanh bành ra rồi không thể giấu giếm được nữa mới bắt thật, báo cáo lên trên lấy công chống gian thương. Ai cũng làm việc ngay thẳng như tướng quân cả thì làm sao mỗi chân lính hải khẩu phải mua đến một trăm hai mươi quan tiền?
Khánh Dư bặm môi bảo:
– Thế ư? Bọn này ăn lộc vua mà chẳng chịu nghĩ gì cho dân cho nước.
– Ở đây mà nói đến dân đến nước người ta cho là bị thần kinh đấy tướng quân ạ. Phải nghe trong hầu bao xủng xoảng thật nhiều tiền đồng mới là khôn ngoan.
Khánh Dư tức quá chém tay vào không khí, quát:
– Rõ thật là quá nhiều kẻ lưu manh vô sỉ. Ngươi mang lính bắt hết những tên đó về đây.
Hiếu Ngân gãi đầu, nói:
– Nhưng thưa tướng quân! Xưa nay lưu manh làm quan, quan là lưu manh nhiều không kể xiết, bắt thế nào hết được đây?
Lại nói Hà Phương được Trần Khánh Dư và Đỗ Khắc Chung giúp cho, không những thoát tội chết mà còn được làm quan huyện Đông Triều, cảm ơn lắm, vội mang vợ con đi nhậm chức. Đông Triều bấy giờ là một huyện thuộc phủ Kinh Môn, núi non trùng điệp, rừng già âm u xen lẫn với sông nước chằng chịt, dân tình không thuần phác lại thường có bọn lục lâm thảo khấu và thuỷ tặc tụ tập chẹn đường chắn sông cướp bóc đánh giết các thuyền buôn. Huyện quan nhiều lần phải thân cầm quân đi tiễu trừ rất vất vả mà vẫn chưa yên. Nhân biết có Trần Khánh Dư đi tuần biển về qua, Hà Phương ra tận bến sông đón mời lên phủ huyện nghỉ ngơi và nhờ Khánh Dư xin cho mình đổi về huyện Trường Tân. Trong bữa tiệc, Hà Phương gọi vợ bé là Bùi Thị ra chào khách. Khánh Dư bản tính hiếu sắc, thấy Bùi Thị còn trẻ lại xinh đẹp, vừa ý lắm mới cầm tay nàng kéo xuống ngồi cạnh mình, ép uống rượu. Hà Phương thấy vậy cũng không dám nói sao. Bùi Thị cố giãy ra không uống. Khánh Dư phật ý bỏ đứng dậy đi ra, nói:
– Các ngươi coi thường ta cũng không sao.
Nói xong cười nhạt bỏ về thuyền, định nhổ neo đi ngay. Hiếu Ngân bảo:
– Tướng quân quả thích Bùi Thị thì đừng đi vội. Tôi chắc chiều nay Hà Phương thế nào cũng mang vợ tới mời tướng quân.
Khánh Dư hỏi:
– Sao ngươi biết:
– Nói trước không hay. Tướng quân cứ ở lại đây đến sáng mai, nếu không đúng như lời, tôi xin chịu tội.
Khánh Dư nghe lời, cho thuyền đỗ lại. Quả nhiên buổi chiều thấy vợ chồng quan huyện Hà Phương đi kiệu đến. Hà Phương xin lỗi về việc vợ mình đã thất lễ với quan trên. Khánh Dư vẫn còn làm ra vẻ mặt giận. Hà Phương nói:
– Hôm nay xin để nàng lại đây đại nhân sai bảo, mong đại nhân chiếu cố.
Nói xong, để vợ ở lại, lủi thủi ra về. Đêm ấy Khánh Dư ái ân với Bùi Thị. Trong khi làm chuyện mây mưa, Khánh Dư hỏi:
– Ta so với Hà Phương thế nào?
Bùi Thị thưa:
– Phu quân thiếp là bạch diện thư sinh yếu ớt sao so được với quan lớn là một hổ tướng. Đời thiếp được một lần hầu hạ tướng quân thật là diễm phúc.
Khánh Dư cười ha hả bảo:
– Biết ăn nói lắm! Biết ăn nói lắm. Nếu nàng ưng lòng thì ta đưa về kinh thành, như thế sẽ luôn được ở gần ta.
– Tướng quân đã có lòng thương thì còn gì thiếp không ưng.
Hôm sau Khánh Dư nói với Hiếu Ngân. Hiếu Ngân xua tay nói:
– Không nên! Không nên! Nơi kinh thành thiếu gì gái đẹp. Tướng quân định ăn đời ở kiếp với ả này hay sao. Vả lại mang ả về vừa chịu tiếng là ép người đoạt vợ vừa phải nuôi thêm một miệng ăn mà sau này chắc gì đã dùng đến nữa. Tốt nhất tướng quân cứ cắm thuyền lại đây chơi mấy ngày, bao giờ chán mang trả lại cho vợ chồng họ đoàn tụ với nhau. Khi nào buồn buồn có thể quay lại đây mượn chơi, như vậy có đỡ rắc rối không?
Khánh Dư nghe theo, dừng thuyền mấy ngày, cho quân lính chơi bời ăn uống, còn mình hú hí với Bùi Thị. Mấy hôm sau no xôi chán chè, Khánh Dư bảo Bùi Thị:
– Hôm nay ta phải về kinh thành, nàng hãy ở lại đây với huyện quan. Có dịp thuận lợi ta lại về thăm nàng.
Bùi Thị chẳng biết làm sao, đôi hàng lệ nhỏ, chào từ biệt bước lên bờ. Khánh Dư sai Hiếu Ngân cùng mấy anh lính tốt đưa Bùi Thị về phủ huyện, lại dặn Hiếu Ngân bảo Hà Phương cứ yên lòng, việc đổi về Trường Tân không có gì khó cả. Giữa tháng chín, Khánh Dư về tới kinh thành Thăng Long, vào triều tấu trình công việc. Nhà vua khen Khánh Dư là người chu đáo. Khánh Dư nhân đấy xin cho Hà Phương được đổi về huyện Trường Tân. Nhà vua cũng chuẩn cho. Khánh Dư đi chuyến này, về việc công hoàn thành tốt đẹp, về việc riêng thì gom được vô số vàng bạc, châu ngọc, san hô, mã não, hổ phách, đồi mồi, thật là món lời lớn, ban thưởng rất hậu cho Hiếu Ngân. Khi qua Vân Đồn, Hiếu Ngân lại tiến cử một người tên là Quây Xẻn. Quây Xẻn người Tống, thạo nghề buôn bán nhưng mắc tội buôn hàng lậu, bị bắt nên mất sạch vốn liếng, đành đi làm thuê ở bến thuyền, Hiếu Ngân biết là người có nghề đem về nuôi cho ăn trong thuyền rồi tiến cử lên. Khánh Dư nói chuyện thấy rất hợp ý mới giữ làm gia thần. Khánh Dư tuy được lợi lớn nhưng khi nghĩ đến công chúa Thiên Thụy lại buồn, không biết tìm cách nào để gặp mặt nàng, đang suy nghĩ nung nấu, có chỉ của nhà vua đòi vào gặp trong buổi chầu sớm ngày mai. Hôm sau trên điện, nhà vua hỏi:
– Khanh đi chuyến vừa rồi thu được nhiều bạc vàng châu báu lắm phải không?
Khánh Dư cãi:
– Muôn tâu hoàng thượng! Thần không dám ạ.
Thánh tông nghiêm nét mặt, ném những tấu biểu các nơi vừa gửi lên cho Dư xem, phán:
– Khanh còn cãi ư? Xem đây là những cái gì? Khắp nơi từ dân đến lính người ta gọi khanh là con cọp đói mồi.
Khánh Dư không chối cãi được nữa mới nói liều rằng:
– Tâu hoàng thượng! Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ.
Nhà vua rất không hài lòng nhưng tiếc Dư là người có tài không nỡ trách phạt, chỉ đuổi ra. Dư sợ vua trị tội, vội bái tạ lui ra rồi chuồn luôn về hương ấp ở huyện Bàng Hà, không dám ở lại kinh thành.
*
Trời thu, nắng như rắc vàng trên đường phố. Gió heo may đã về khiến khách bộ hành cùng một lúc có hai cảm giác, nửa người quay về phía nắng thì nóng ấm còn nửa kia thì se se lạnh. Xóm Cây Duối bên hồ Lục Thuỷ xưa vốn chỉ có mươi nóc nhà sơ sài, nay đã thành một dãy phố sầm uất với nhiều lầu gác dinh thự tân kì đua nhau mọc lên. Giá đất tăng vùn vụt. Có chỗ trước kia cho không ai lấy, nay bỏ cả đống tiền mua chẳng nổi. Dân ở đây cũng không thuần nhất như xưa, nhiều nhà giầu có, xe ngựa tấp nập đi về hối hả với những vụ làm ăn bạc vạn. Các vị quan có tiền cũng mua đất dựng nhà quay ra mặt hồ nghỉ ngơi trong lúc thư nhàn. Đám ăn mày, trộm cắp cùng những kẻ lưu manh vô lại theo nhau tập trung về từng đàn kiếm ăn.
Bà cụ Hải đã chết ít lâu sau cái lần đi tìm mộ con ở Bình Lệ về, cô con gái bán gia tài cho kỹ viện Phúc Tình lấy tiền về quê tậu ruộng. Ông hàng thịt chó nay già lắm, tóc trắng như sợi gai, ngày ngày vẫn đều hai bữa rượu làm da mặt lúc nào cũng đỏ như trái táo chín, mọi công việc giao cả cho anh con giai nhớn. Cửa hàng được sửa chữa lại rộng rãi lịch sự lên rất nhiều. Khách đến ăn toàn những tay kiệt hiệt, miệng nói bô bô, tiêu tiền như vãi trấu. Chỉ có nhà anh cả Thìn – nay đã là bác cả Thìn – là chưa thay đổi mấy. Bác cả Thìn vốn không thạo nghề buôn bán lại lúc nào cũng giữ cái ý nghĩ mình đã từng một thời là lính hoàng gia cần phải mẫu mực, không được làm những sự sai quấy. Dạo bác Thìn dẫn mấy người đi Bình Lệ tìm mộ chồng con, lý tể Vũ Tình có hứa khi nào về sẽ cho cái giấy để bác mở hiệu bán giầy guốc nhưng vì ghét cái thói trăng hoa đĩ bợm vô liêm sỉ của Vũ Tình, bác không đến. ở nhà mãi cũng chán, bác kiếm bộ tràng đục cùng vài hộp sơn ra đầu phố làm nghề sửa chữa xe, kiệu mỗi ngày kiếm vài ba xu cùng với số tiền bác gái thu được từ gánh bún riêu bán rong, thế cũng đủ sống được qua ngày. Nhưng rồi bác gái sinh thêm bé Phượng và bé Quy. Nhà năm miệng ăn, hai bác phải chật vật lắm mới giữ được cho lũ con khỏi đói. Vũ Tình thấy bác cả Thìn khoẻ mạnh lại tinh thông võ nghệ, sang mời làm tương bang cho nhà hàng nhưng bác từ chối. Cũng từ đó bác cả Thìn không muốn gặp mặt tư Phúc và Vũ Tình nữa. Ngôi nhà cũ của vợ chồng bác ngoi ngóp giữa những toà ngang dãy dọc dồn dập mọc lên, như một thầy tu khổ hạnh thủ tâm giữ đạo giữa đám quần hùng, mãi cách đây vài năm nhờ một người bà con làm ăn buôn bán tận Qua Oa về chơi cho một ít tiền mới được sửa chữa rộng ra như ngày nay nhưng so với những nhà kế bên nó vẫn chỉ là chú em rách rưới còi cọc.
Cu Long đã lớn, đi học xa chuẩn bị cho khoa thi tới, lâu lâu mới về thăm nhà. Chị em cái Phượng, cái Quy cũng mười bốn mười lăm cả, có thể giúp mẹ được nhiều việc. Nhưng cũng giống như tất cả những đứa trẻ khác, lúc còn bé chúng luôn vòi vĩnh bắt bố kể chuyện đánh Thát, khi đến tuổi trăng tròn, chẳng đứa nào còn muốn nghe chuyện của bố nữa. Chúng thích ăn diện và đi chơi phố. Chiều nay bác cả Thìn đợi cậu con trai, chốc chốc lại trông ra cổng, bảo:
– Thằng Long dặn hôm nay về mà sao vẫn chưa thấy đâu. Bây giờ đi lại sẵn xe ngựa đường trường, cũng đỡ khổ hơn bố ngày trước. Dạo hành quân lên Bình Lệ…
Cái Phượng ngắt lời bố:
– Bố lại kể chuyện cổ tích chiến trường của bố đấy, nghe mệt lắm. Bây giờ người ta làm ăn ầm ầm, phố phường đầy dẫy thứ chơi, ai lại cứ kể chuyện đánh nhau mãi.
Bác Thìn gái sợ chồng phật ý, mắng con:
– Tiên nhân con này, nói thế à?
Bác cả Thìn bảo vợ.
– Thôi! Kệ chúng nó. Mỗi thời mỗi khác. Mình cũng chẳng bắt chúng nó sống như mình ngày trước được.
Cái Quy thấy bố nói vậy, bảo:
– Mẹ thì thế nào cũng nói được, hôm nọ mưa nhà dột, kêu khổ. Con thấy khối người chẳng đi lính bây giờ giầu hú hụ, nhà cửa, xe ngựa đàng hoàng chứ đâu có như nhà mình. Chẳng phải đâu xa, ông lý Tình cạnh đây làm ăn như sấm như sét, năm sáu cơ ngơi. Nhà mình, chúng con bàn làm gì bố cũng sợ phạm pháp, sợ ảnh hưởng thanh danh người lính. Nhà cửa lúp xúp thế này chẳng biết cái thanh danh ấy có bị tổn thương không?
Bác Thìn gái mắng cái Quy:
– Con ranh kia! Biết gì mà cũng nói. Không có người ở nơi chiến trận ngã xuống thì liệu bây giờ chúng mày có tí tởn được như thế không? Ăn lắm vào cho nó dửng mỡ. Rõ cái đồ vô phúc.
Bác cả Thìn không nói gì chỉ ngồi trầm tư, nhìn hút vào không gian.
*
Dãy cây bàng cổ thụ trước cổng hoàng thành rụng hết lá, trơ lại vô số những chiếc cành khẳng khiu như cánh tay ông già gầy guộc chới với giữa tầng không hứng gió may. Trời mùa Đông lạnh và xám như gio. Quang cảnh thiên nhiên ấy dẫu có giấu kín phía sau bóng dáng của mùa xuân xem ra cũng chẳng ăn nhập gì với tâm trạng của những đôi trai gái đang liếc mắt đưa tình trao gửi cho nhau. Tình yêu! Vâng tình yêu, cái nguồn mạch của hạnh phúc sướng vui và bao nỗi sầu đau buồn khổ, như hai nửa đục trong tuôn chảy với dòng đời. Nhân loại đã có bao kẻ bị cái dòng sông cháy bỏng ấy cuốn đi và nhận chìm một cách vô tình. Một khi vướng vào sợi dây oan nghiệt ấy nghĩa là tự mình đem mũi gai nhọn găm vào giữa trái tim để được hưởng niềm khoái lạc của sự nhức nhối.
Đã ba tháng nay, từ khi gặp Mộng Điệp, đô trưởng Thân Văn Khoai không sao ngủ được, hình bóng nàng không khi nào rời khỏi tâm trí chàng. Làm thế nào để có được bốn trăm quan tiền chuộc Mộng Điệp ra? Văn Khoai vốn là người tự tin nhưng chưa bao giờ chàng thấy bất lực đến thế. Mỗi lần hình dung ra khuôn mặt xinh đẹp sầu khổ của Mộng Điệp, chàng có cảm giác như ai đang dùng móng sắc cào cấu trái tim mình. Thập trưởng Trịnh Quang Minh thấy bạn buồn bã như vậy, tìm lời an ủi hỏi chuyện. Văn Khoai thực thà kể hết sự tình. Quang Minh bảo:
– Bốn trăm quan tiền qủa không phải là nhỏ. Bao nhiêu năm nay làm lính, tôi cũng chỉ mới dành dụm được năm mươi quan. Cậu đã có lòng muốn chuộc người ta, tôi xin giúp cả cho cậu.
– Tấm lòng của bác em rất hiểu nhưng em không thể để liên lụy đến bác như thế được.
– Không sao! Không sao. Chúng ta là anh em. Xin chú đừng ngại. Sau khi phải đày đi làm lính chèo thuyền tôi đã nghiệm ra một điều ở đời tiền bạc không phải là thứ quí nhất. Đã ở lính thì chiến hữu chính là xương thịt của mình. Chú buồn, tôi vui sao được. Vả lại số tiền tôi cũng không dùng đến.
– Xin đa tạ bác. Như vậy là đã có được ba trăm quan. Em về quê bảo đẻ em bán đi mấy sào ruộng nữa là có thể đủ.
*
Công chúa Thiên Thụy đang trong những ngày đợi chờ hôn lễ nhưng nàng không sao xua đuổi được hình ảnh Khánh Dư ra khỏi đầu óc. Đành rằng Quốc Nghiễn là một chàng trai trẻ đẹp tài hoa, hoàn mĩ về mọi mặt song dường như sự đạt được con người ấy quá dễ dàng khiến Thiên Thụy giảm cảm giác hào hứng. Chính những ngày Đông lạnh lẽo này càng gợi cho nàng nhớ tới Khánh Dư. Khánh Dư, chàng không có cái vẻ mĩ miều của con nhà quyền quý, con người ấy thô mộc cứng cáp làm sao. Hơi thở của chàng ấm và gấp. Vòng tay chàng chắc khoẻ. Đã bao lần nàng nằm gọn trong vòng tay ấy, nó như vòm mái đủ vững chắc che chở cho nàng. Càng về khuya, nỗi nhớ nhung càng cồn lên, Thiên Thụy không sao ngủ được, nàng ra đứng bên khung cửa sổ. Bầu trời vắng tanh không một ngôi sao. Một tiếng vạc cô đơn lạnh buốt bay giữa tầng không. Tội nghiệp con chim, nó đang lẻ bạn. Thiên Thụy rùng mình, nàng quay vào lấy giấy bút viết cho Khánh Dư một bức thư tình với trăm ngàn lời trách móc nhưng lại hàm chứa một niềm nhớ thương da diết khôn nguôi.
Khánh Dư từ buổi trở về hương ấp, ruột gan như có lửa đốt, không biết làm cách nào để liên lạc được với Thiên Thụy. Suốt ngày chàng uống rượu rồi thở ngắn than dài, mọi công việc tô thuế cũng không màng tới, giao cả cho Hiếu Ngân và Quây Xẻn lo liệu với tá điền. Chiều nay Khánh Dư cũng đang trong cơn buồn khổ, bỗng gia nhân vào báo có người từ kinh thành tới. Khánh Dư bảo:
– Nói là ta không khoẻ, không muốn tiếp ai.
Gia nhân chạy ra một lúc, quay vào nói.
– Trình tướng quân! Người ấy mang thư của công chúa Thiên Thụy.
Mắt Khánh Dư sáng lên, vội vàng nói:
– Ngươi mau ra đưa họ vào đây.
Người thị nữ cúi chào Khánh Dư rồi dâng bức thư của công chúa Thiên Thụy. Khánh Dư xem thư xong, trong lòng phấn khởi bội phần, liền sai người mài mực, viết thư trả lời. Thôi rồi khỏi phải nói, bức thư Khánh Dư viết thật là dài, vừa bộc bạch tâm trạng nhớ nhung khao khát được gặp lại công chúa, rồi đến bể cạn non mòn cũng không sao quên nhau được. Tình cảm xem ra “lâm li thống thiết” lắm nhưng vì Khánh Dư là võ quan, ít khi cầm bút nên chữ nhầm chữ lỗi be bét cả, chữ đường là con đường chàng viết thành chữ đường là cục đường để nấu chè, chữ chung là cái chuông viết thành chữ trung là ở giữa, chữ thương là yêu thương hoá ra chữ thương là cái cót vựa đựng thóc. ấy thế mà khi đọc lại có vẻ đắc ý lắm, xong xuôi phong kín đưa cho người thị nữ mang về còn mình thì ngong ngóng đợi đến ngày hẹn.
Công chúa Thiên Thụy nhận được bức thư tình, mừng hơn vớ được của, chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ đến việc Khánh Dư viết sai hay đúng. Nàng múa! Nàng hát. Nàng nhảy lò cò như đứa trẻ chơi nhảy bàn ô. Nàng nhìn cái gì cũng thấy sáng tươi đẹp đẽ, con chim trong vườn hót cũng hay hơn. Đến ngày hẹn, nàng định làm mặt giận để chọc khổ Khánh Dư. Nhưng vừa trông thấy chàng ngồi đợi trên phiến đá phẳng mà hai người thường hẹn hò nhau trong thạch động, Thiên Thụy không kìm được lòng mình, chạy vội về phía chàng. Cả hai quên hết những điều hờn dỗi. Bao nhiêu nỗi nhớ nhung buồn khổ đều biến thành những cử chỉ âu yếm. Cặp trai gái đang say mê trong cơn hoan lạc thì có tiếng xôn xao rồi ba bốn người hiện ra sau lối ngoặt. Cặp uyên ương chưa kịp rời nhau ra, mấy người kia đã đến ngay trước mặt. Điều tệ hại nhất là người dẫn đầu chính là công tử Nghiễn. Thì ra hôm nay công tử mới vừa từ Vạn Kiếp lên, chàng đến thăm công chúa, vị hôn thê mà bao ngày mong đợi. Thị nữ nói là công chúa chơi trong ngự hoa viên nên chàng đến đây tìm nàng, không ngờ lại bắt gặp cảnh tượng trớ trêu này. Trong giây lát Quốc Nghiễn đã hiểu ra tất cả, lòng tự ái và khí uất tưởng bốc tận trời xanh, chàng rút kiếm lao về phía Khánh Dư nhưng may thay người tuỳ tướng đứng bên kịp ngăn chàng lại. Quốc Nghiễn bỏ đi. Công chúa Thiên Thụy bưng mặt khóc như đứa trẻ vừa đánh vỡ thứ đồ chơi quý.
Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang vừa ở triều về đã nhận ngay được thư từ hôn của Hưng Đạo vương và Quốc Nghiễn gửi hoàng Thượng cùng bức thư nhờ ông bày tỏ việc công chúa Thiên Thụy thông dâm với Trần Khánh Dư. Quốc Khang vò đầu bứt tóc không biết vì đâu cơ sự lại trở nên như vậy. Vốn là người trung thực và tận tụy, ông lật đật trở lại hoàng cung, tâu trình mọi việc cùng Thánh tông. Thánh tông nghe xong, sai người tức tốc đi gọi Trần Khánh Dư, Hưng Đạo vương và Quốc Nghiễn về triều để đối chất. Mặt khác sai thái giám khám xét nơi ở của công chúa Thiên Thụy, bắt được bức thư của Trần Khánh Dư.
Hôm sau triều thần phân xử. Quốc Nghiễn cứ những điều mắt thấy tai nghe kể lại làm các quan không nhịn được cười. Khánh Dư và công chúa Thiên Thụy cũng không chối cãi. Thánh Tông vì sợ mất lòng Hưng Đạo vương, phán:
– Trần Khánh Dư ngông nghênh ngạo mạn, coi thường phép nước, quyến rũ công chúa làm điều càn quấy, xúc phạm bề trên, khi quân phạm thượng, nhân chứng vật chứng đã rõ ràng. Truyền tước bỏ mọi phẩm hàm, tước bỏ mọi chức quan, tịch thu gia sản rồi đem lên Tây hồ đánh chết làm gương cho những kẻ coi nhẹ kỷ cương.
Khánh Dư không lạy, cũng không kêu xin, chỉ gào lên:
– Quốc Tuấn ngày xưa cũng thế, sao bây giờ không gả Thiên Thụy cho tôi?
Bọn vũ sĩ xông vào lột mũ áo, trói Khánh Dư lại, dẫn đi. Lúc bãi triều, quan thẩm hình viện Đặng Ma La xin gặp riêng hoàng thượng, nói:
– Trần Khánh Dư có tài làm tướng, thật là hiếm có, xin hoàng thượng gia ân đừng giết ông ta.
Thánh Tông bảo:
– Khanh cứ yên tâm, ta nói thế để vừa lòng Hưng Đạo vương thôi. Đã sai người đi bảo đừng đánh chết rồi.
Thương thay Khánh Dư bị bọn võ sĩ lôi lên bờ hồ Tây đánh một trận nhừ tử, lại dìm xuồng hồ cho uống ước ừng ực nhưng chàng không hề kêu một tiếng. Ai trông thấy cũng cũng chết khiếp vì sự gan dạ. Viên ngũ trưởng thấy vậy ghé vào tai Khánh Dư, bảo:
– Tướng quân hãy giả vờ chết, chúng tôi thả tướng quân ra.
Khánh Dư quát:
– Nhà vua bảo các ngươi đánh chết thì cứ đánh. Có thế thôi làm sao phải giả vờ.
Nói xong nằm yên chịu đòn, lúc sau khắp mình bê bết máu, chàng mê man không biết gì nữa. Bọn lính dừng đánh. Viên ngũ trưởng nói:
– Tội nhân đã chết. Ai là người nhà thì đưa thi hài về mà mai táng.
Lúc ấy người nhà Khánh Dư chưa hay tin nên không có ai tới. Chỉ có một người ăn mặc rách rưới, nón mê tuột cạp đến ôm xác Khánh Dư khóc:
– Hầu tướng ôi! Tôi biết rồi thế nào cũng có ngày này mà.
Bọn võ sĩ thấy có người đến khóc mới bỏ về. Người khách áo rách kia thấy Khánh Dư còn thở khò khè liền thuê một chiếc xe, đặt lên chở ra ngoài thành Đại La tìm thầy thuốc cứu chữa. May mắn gặp được thầy thuốc còn trẻ tuổi nhưng thông hiều y thuật, khám xét vết thương xong, nói:
– Vết thương tuy đau đớn nhưng không phạm vào trong. Chỉ bôi thuốc ít ngày cho liền những chỗ rách da, cũng khỏi.
Người khách áo rách đưa cho thầy thuốc hai lạng bạc, bảo:
– Nhờ thầy chạy chữa giúp cho.
Thầy thuốc cười, nói:
– Tôi được chữa bệnh cho hầu gia là vinh hạnh rồi. Xin đừng kể chi công lao tiền bạc.
Ngày hôm sau Khánh Dư từ từ mở mắt, trông thấy người khách áo rách, nhận ra người gia thần cũ, chàng khẽ gọi:
– Ngô Kế Trung, có phải ngươi đấy không?
– Vâng! Tôi đây thưa hầu tướng.
– Sao ngươi lại ở đây?
– Hầu tướng hãy cứ nghỉ ngơi đi. Chuyện dài lắm, sau này hẵng nói.
Mấy hôm sau, các vết thương trên mình Khánh Dư đã lành miệng. Chàng bảo Ngô Kế Trung đưa mình về huyện Bàng Hà. Kế Trung liền thuê thuyền, chủ tớ từ giã người thày thuốc tốt bụng, ra đi. Hôm ấy là ngày hai mươi tháng chạp, trời rét lắm mà trên mình Ngô Kế Trung chỉ khoác có một manh áo, lại thủng nhiều chỗ. Khánh Dư hỏi:
– Sao ngươi mua quần áo mới lại không mặc, nhường hết cả cho ta, còn mình chịu rét thế kia.
– Thưa hầu tướng! Những thứ tôi mua từ hôm trước tới nay đều là tiền của hầu tướng cả, chứ tôi có gì đâu.
– Sao lại như vậy được? Hôm nay nhân đi thuyền nhàn rỗi, ngươi kể chuyện cho ta nghe. Từ khi bỏ đi, ngươi làm gì, ở đâu, vợ con ra sao?
– Tôi biết bỏ đi mà không xin phép là đắc tội lắm, nhưng không làm thế thì sao hầu tướng cho đi.
– Nhưng vì sao phải đi mới được chứ?
Ngô Kế Trung thở dài, nói:
– Vận nước lúc thịnh lúc suy, đời người khi lên khi xuống. Tôi thấy hầu tướng khi ấy tuổi còn trẻ mà công danh đã lẫy lừng, nên sợ có lúc phải đi xuống, mới gói ghém chỗ bạc vàng hầu tướng đã ban cho rồi đưa vợ con trốn đi nhưng vẫn thường nghe ngóng đường đi nước bước của hầu tướng. Chẳng ngờ vợ tôi là con đàn bà đê tiện, chỉ thích ăn chơi cùng ngồi lê đánh bạc. Gia tư dần khánh kiệt, thị muốn tôi bán vàng bạc để tiêu sài. Tôi không nghe vì biết số bạc vàng ấy sau này còn phải dùng cho hầu tướng. Thế là thị chửi bới om sòm, giễu tôi là đồ đàn ông ăn hại không biết làm ra tiền, mài chữ ra mà ăn. ít lâu sau không chịu sống cuộc đời khổ cực, thị tếch theo một gã buôn trâu lên mạn ngược, bỏ lại hai cha con tôi. Bố con bồng bế nhau đi, vừa xin ăn, vừa viết chữ thuê. Đến một ngày cháu bị nóng sốt, ra mới. Không đủ tiền mua thuốc, nó đã bỏ tôi.
Nói đến đây Ngô Kế Trung không cầm được nước mắt. Khánh Dư cũng lặng người đi, lúc lâu sau mới trách:
– Nhà ngươi thật là cố chấp. Có vàng bạc trong tay mà để con chết thảm thế được ư?
– Xin hầu tướng hiểu cho. Tôi không thể lạm dùng số của cải ấy được.
Khánh Dư phàn nàn mãi rồi hỏi:
– Hôm ở hồ Tây sao ngươi biết ta bị nạn mà đến cứu?
– Tôi thường bí mật theo hầu tướng. Hôm ấy thấy bọn lính giải ngài đi nên tôi theo.
Mấy hôm sau đến Lục Đầu giang, hai người lên bộ về hương ấp. Gia tư của cải bị bọn lính về vét sạch sành sanh, nhà cửa hơ hoác, vườn tược tiêu điều, cỏ gấu chớm mọc đến bên thềm. Hiếu Ngân, Quây Xẻn đã bỏ đi. Vợ con Khánh Dư cũng không biết phiêu dạt nơi nào. Chàng đứng ngắm quang cảnh mà lòng đau xót. Hai người vòng ra phía sau, gặp mỗi mình người lão bộc ngồi đun nồi cháo sắn. Thấy có người, lão dụi mắt nhìn lên. Nhận ra chủ, người hầu già ôm chầm lấy chàng, khóc không thành tiếng. Khánh Dư cố trẫn tĩnh, an ủi người lão bộc, hỏi:
– Phu nhân cùng các con tôi đâu?
Lão Bộc thưa:
– Trình chủ tướng! Phu nhân nghe tin ngài thọ hình ở kinh thành nên đã gửi các công tử sang quê ngoại, lên kinh tìm rồi.
Khánh Dư bảo:
– Thế này thì ta phải quay lại Đại La tìm nàng thôi.
Ngô Kế Trung can:
– Hầu tướng không nên đi. Phu nhân biết hầu tướng đã thoát nạn, thế nào cũng về ngay. Tốt nhất ta cứ nghỉ ngơi rồi báo sang quê ngoại để các công tử khỏi lo đã.
Lão bộc bảo:
– Ngô tướng quân nói đúng đấy. Xin chủ tướng đừng lên kinh. Cũng còn ít gạo, để tôi nấu cơm cho hai người ăn.
Ngô Kế Trung hạ cái bọc vải trên lưng xuống mở ra, nói:
– Đây là tất cả số của cải tôi mang đi, bây giờ xin giao lại để hầu tướng chi dùng.
Khánh Dư bảo:
– Ngươi vì ta mà mất cả vợ con. Ta sao dám dùng chỗ vàng bạc này.
Kế Trung nói:
– Xin hầu tướng hãy quên những chuyện đã qua. Mọi việc còn đang chờ ở phía trước kia.
*
Đây nói công chúa Thiên Thụy được tin Khánh Dư bị xử tội chết, thương xót lắm mới cùng thị nữ lên hồ Tây tìm cách cứu chàng nhưng khi đến nơi, không còn ai ở đấy. Tìm mãi thấy một ông lão câu cá, Thiên Thụy hỏi thăm, ông già bảo:
– Ông ấy bị đánh đau quá, lính bảo là đã chết, người nhà mang đi mai táng rồi.
Thiên Thụy nghe vậy, rụng rời chân tay, thét lên một tiếng, nhao xuống hồ tự vẫn.
Thật là:
Chàng vừa thoát nạn về quê cũ
Nàng lại quyên sinh xuống đáy hồ
Mời bạn đọc tiếp chương sau xem công chúa Thiên Thụy sống chết thế nào.
Đ.T
