Phố tôi là một con phố nhỏ của cái thị xã miền núi yên bình, nằm ngay bên dòng sông Kỳ Cùng bốn mùa lặng lẽ trôi ngược về phương Bắc. Thiên nhiên cũng thật lạ khi để con sông bắt nguồn từ núi Bắc Xa cao 1.166m của huyện Đình Lập, không xuôi ra biển mà chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc qua giữa lòng thị xã nhỏ bé, men theo núi đồi, bản làng và ngược sang Trung Quốc. Phố có tên gọi là Hàng Mắm. Có cái tên gọi mộc mạc ấy là vì nghe ông tôi kể lại hồi xa xưa cách đây trên cả trăm năm, nhà bác San bây giờ chính là kho chứa nước mắm của một người thổ ty hồi đó; người ta thuận miệng gọi tên phố theo nơi buôn bán thứ hàng hóa mà nhà nào cũng phải cần. Gọi mãi rồi cũng quen thành tên phố cho đến tận bây giờ, cho dù sau bao lần đổi tên rồi lại vẫn quay về cái tên dân dã đó.
Hàng Mắm là con phố cụt, được một con suối nhỏ ôm vòng sau lưng trước khi chảy ra sông. Cuối phố, có một lối nhỏ dẫn xuống suối và một gò đất cao sát ngay bờ suối với ngôi miếu nhỏ ngự trên đó. Ngay trước những bậc đất dẫn lên miếu là một cây đa và cây gạo cổ thụ, dây leo bám nhằng nhịt. Xung quanh miếu đủ các loại cây ăn quả như vải, bưởi, mơ, nhãn…, mọc xanh um, nhưng đố đứa nào trong lũ trẻ chúng tôi dám bén mảng, mò lên đây, chứ đừng có nói là dám vặt hái lấy một quả. Chúng tôi sợ vì cái vắng vẻ, âm u của gò đất và sự thâm nghiêm của ngôi miếu mà trong trí tưởng tượng của lũ trẻ chúng tôi luôn có những điều kỳ bí rình rập có thể xảy ra bất cứ lúc nào; nhất là đứa nào cũng hãi khi nghe câu “cây gạo có ma, cây đa có thần!”.
Chẳng biết ngôi miếu này có từ đời nảo đời nào; các cụ già bảo nghe truyền kể hình như từ thời loạn giặc Cờ Đen, Cờ Vàng gì đó. Có người lại bảo còn lâu hơn. Cũng lạ một điều là trải qua bao biến thiên, tao loạn của chiến tranh, phố tôi lại nằm ngay gần cầu Kỳ Cùng, là mạch máu giao thông duy nhất nối hai khu thương mại và hành chính của tỉnh, một trong những trọng điểm đánh phá thời Pháp, Nhật xâm chiếm rồi cả khi Mỹ ném bom miền Bắc. Trong bom đạn, cầu gẫy, xung quanh nhà cửa bị san bằng, đổ nát, vậy mà tuyệt nhiên ngôi miếu nhỏ này chẳng hề hấn gì. Theo thời gian, mái ngói của miếu bị hư hỏng, đã được bà con góp tiền của để tu sửa, lợp lại. Mỗi dịp vào ngày rằm, mồng một hay cuối năm, bà cụ Sính là người cao tuổi nhất của phố vẫn hay thập thững từng bước lên miếu thắp hương, cúng vái. Có lần lũ trẻ chúng tôi được bà sai ôm đồ cúng đi theo. Tôi cùng mấy đứa bạo dạn ngó vào trong miếu. Chính giữa miếu là cung thờ uy nghiêm, bên phải là hàng binh khí đủ cả thanh long đao rồi bát xà mâu, giáo nhọn… sơn son thếp vàng, trông lạnh cả gáy, làm cho không đứa nào dám bước vào bên trong.
Gò miếu chỉ thực sự đông người mà phần lớn là lũ trẻ chúng tôi, khi đến mùa vải, mùa nhãn, bà cụ Sính gọi mấy anh thanh niên trong phố trèo lên trảy quả xuống thắp hương, rồi đem chia cho mỗi nhà từng chùm quả ngon ngọt như đường. Nhớ hồi chiến tranh lan ra miền Bắc, quãng năm 1964-1965, các gia đình ở phố tôi đều tìm lấy những khoảnh đất quanh gò miếu để đào hầm trú ẩn, có người còn đào trúng chỗ có một cái chum nhỏ trong toàn đất mủn, lại có cả vài đồng xu cổ vương vãi xung quanh. Người lớn dọa đấy là “thần giữ của”, làm lũ trẻ chúng tôi vừa tò mò, lại vừa sờ sợ, chẳng đứa nào dám bén mảng lại gần. Hầm đào xong nhưng cũng chẳng bao giờ có dịp sử dụng vì sau đó các gia đình đều phải đi sơ tán, không được ở lại thị xã theo thông báo của Ban phòng không của tỉnh.
*
Năm tôi học lớp 9 cũng là lúc Mỹ ngưng ném bom miền Bắc. Trường tôi được về thị xã. Chúng tôi thoát cảnh đi sơ tán. Ai cũng mừng vui, không còn phải đi bộ gần chục cây số mới đến được trường. Bây giờ thì bạn bè cùng lớp muốn gặp nhau cũng không còn xa xôi như trước, khi mỗi nhà sơ tán một nơi.
Vào đầu năm học, lớp tôi có thêm gần chục bạn mới từ thị trấn Đồng Đăng chuyển xuống vì dạo ấy trên đó chưa có trường cấp 3. Ngoài bọn thằng Chiến, thằng Hiền với cái Điệp, cái Thảo có người nhà ở thị xã nên trọ ở lại, còn những đứa là dân Hoa kiều, không có người quen ở đây đều phải đạp xe mỗi ngày 28 cây số vừa đi vừa về. Trong nhóm ấy có thằng Hoóng.
Tôi sớm có thiện cảm với thằng Hoóng vì thấy nó hiền lành, ít nói, nhất là biết hàng ngày phải đi học xa thế mà chưa lần nào thấy nó muộn giờ. Về phía thằng Hoóng, nó cũng như nhiều đứa khác trong lớp rất nể tôi vì sức học khá, luôn nằm ở tốp trên của lớp, nhất là môn Nga văn, mà mỗi lần kiểm tra thì chúng nó luôn cầu cứu tôi.
Một buổi chiều, tôi đang vơ vẩn trước nhà thì bỗng thấy thằng Hoóng.
– Ơ, nhà mày ở đây à? – Thằng Hoóng ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi.
– Ừ! Mày đi đâu đấy. Sao chưa về à? – Tôi cũng ngạc nhiên không kém.
– Tao đến nhà chị tao.
– Chị mày? – Tôi tròn xoe mắt. Phố tôi chỉ có hơn hai chục gia đình, mọi người đều biết nhau cả chứ có xa lạ gì đâu cơ chứ.
Chị thằng Hoóng ở đây thật. Hóa ra hai vợ chồng mới đến thuê nhà cô Tửu cạnh nhà tôi, ở được gần tháng nay, là anh chị thằng Hoóng. Nó bảo chị nó làm thợ may, còn anh rể nó là công an bên tỉnh. Cũng như những người dân ở cái thị xã yên bình này quen sống thân thiện với nhau, anh chị thằng Hoóng cũng sớm chan hòa với mọi người trong phố tôi. Có lần gặp tôi, chị nó bảo “Thằng Hoóng kể với chị là em học giỏi lắm, nói tiếng Nga như người Nga”, làm tôi sướng mê, nở cả mũi.
Thằng Hoóng hiền lành, ít nói, học cũng trung bình thôi, nhưng lại giỏi bóng bàn và là chân tiền đạo không thể thiếu trong đội bóng lớp tôi. Mà cũng thật thú vị là mấy đứa bạn Hoa kiều trong lớp tôi đứa nào cũng đều chơi thể thao khá cả; bởi vậy lớp chúng tôi nhiều năm luôn đứng tốp đầu trong các giải đấu của nhà trường. Trong lớp phần lớn là dân thị xã, còn lại là những bạn ở các huyện, thị trấn là người Tày, Nùng và Hoa, nhưng chúng tôi lúc nào cũng chan hòa, chẳng bao giờ có sự phân biệt cả.
Theo dòng thời gian, tuổi thơ của chúng tôi cũng êm đềm trôi qua. Cho đến năm cuối lớp 10, cũng là hết bậc phổ thông, đúng lúc Mỹ trở lại ném bom miền Bắc, dùng máy bay B52 hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Bạn bè chúng tôi mỗi người một ngả, đứa vào đại học, đứa đi bộ đội, đứa làm công nhân; từ đấy cũng ít gặp nhau.
Sau mấy năm học đại học ở Hà Nội, tôi tốt nghiệp và được giữ lại làm giảng viên của trường. Bận bịu với công việc, nên mỗi năm chỉ đôi lần tôi về thăm thị xã nhỏ của mình và gặp bạn bè cũ còn ở đây.
Một lần, trên chuyến tàu từ Hà Nội về Lạng Sơn, tôi đang say sưa thả mắt ngắm nhìn những thửa ruộng bậc thang vàng ruộm lúa chín, vun vút lướt qua cửa sổ tàu, thì bỗng bị một cái vỗ khá mạnh vào vai. Tôi giật mình quay lại.
– Ơ, Hoóng! – Tôi tròn xoe mắt và bật thốt lên như reo khi bất ngờ gặp lại thằng bạn học thời phổ thông ở đây. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau, rồi tíu tít thằng nọ hỏi thằng kia, không kịp để cho nhau trả lời; mặc cho hành khách xung quanh đang dồn hết mắt nhìn về phía chúng tôi. Nhanh quá! Thế mà đã 6 năm rồi, bây giờ chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ buổi liên hoan chia tay sau khi tốt nghiệp cấp ba phổ thông vào mùa hè 1972. Hoóng bây giờ đã là phó quản đốc phân xưởng của một nhà máy cơ khí ở thị xã. Học xong Bách khoa, nó được phân về tỉnh nhà làm việc. Với cái tính chịu khó mày mò, có lắm sáng kiến trong sản xuất nên Hoóng được lãnh đạo nhà máy tín nhiệm lắm. Tôi mừng cho sự thành đạt của Hoóng. Không biết trong lớp có bao nhiêu đứa có công việc được hanh thông như nó?
Đang trò chuyện, bất chợt thấy nó tự nhiên trở nên như đăm chiêu hẳn đi. Tôi cũng im lặng. Cả hai cùng đang theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Dạo này trên báo và đài đang đưa tin về sự kiện “nạn kiều” do phía Trung Quốc gây ra. Tôi bỗng ái ngại và cảm thấy lo lo cho nó.
Trầm ngâm một lúc, tôi dè dặt hỏi Hoóng:
– Mày có nghe chuyện hai tàu Trường Lực, Minh Hoa đang đỗ ngoài khơi biển Đông để chờ đón Hoa kiều không? Gia đình mày định ra đi hay vẫn ở lại đây?
– Ôi dào, tự dưng lại sinh ra cái chuyện vớ vẩn thật đấy. Tao chả để ý làm gì cho mệt. Nhà tao bao nhiêu đời sinh sống ở đây; tao cũng sinh ra, lớn lên ở đây và đang có sự nghiệp ổn định. Việt Nam đã trở thành Tổ Quốc của chúng tao từ lâu rồi. Còn Trung Quốc ư. Tao có biết nó như thế nào đâu mà bảo đấy là quê hương với chả Tổ Quốc?
Hoóng giọng chân thành trả lời tôi. Tôi nắm lấy bàn tay nó bóp nhẹ.
Ừ, từ trước đến giờ chúng tôi có bao giờ nghĩ đến người này là người Việt, người kia là người Hoa hay Tày, Nùng… gì đâu; mà lúc nào chúng tôi cũng chỉ lớp mình, lớp mình đấy thôi.
*
Ngày 17 tháng 2 năm 1979.
Thị xã yên bình đang ngủ ngon trong màn sương trắng bao bọc bỗng choàng tỉnh khi tin quân Trung Quốc bất ngờ nổ súng đánh chiếm sáu tỉnh biên giới từ sáng sớm. Tiếng pháo giặc ùng oàng từ mạn Đồng Đăng vọng về. Người dân mới đầu còn ngỡ ngàng như không tin nổi, rồi bắt đầu lũ lượt gồng gánh sơ tán về tuyến sau ngược chiều với bộ đội đang lên phía trước.
Không ai có thể ngờ được vừa hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh lại nổ ra do chính những người hôm qua còn xưng là anh em gây nên. Mảnh đất sáu tỉnh biên giới phía Bắc trước đây được coi là hậu phương thì bây giờ lại trở thành tiền tuyến chống thù.
Tiếng pháo của giặc như càng ngày càng gần hơn. Cả thị xã yên bình bây giờ đã hầm hập sức nóng của chiến tranh. Đoàn tàu hỏa cũ kỹ đang đỗ ở ga Lạng Sơn phì phò nhả khói, đón chủ yếu là người già và trẻ em sơ tán về mạn dưới Đồng Mỏ, thỉnh thoảng lại hực lên những tiếng xịch… xịch… xịch… xịch, như giục giã mọi người mau mau rời khỏi vùng chiến sự.
Thị xã chỉ còn bộ đội và dân quân tự vệ ở lại đương đầu trong trận chiến chống quân xâm lược.
*
Thị xã nhỏ bé, xinh đẹp và yên bình bên dòng sông bốn mùa lững lờ trôi, giờ đây đã trở thành đống gạch vụn do bị đạn pháo phá hủy. Sau bẩy ngày của cuộc chiến, hai bên giành giật nhau từng phần đất phía bờ Bắc của sông Kỳ Cùng. Thỉnh thoảng đó đây lại vang lên một loạt AK, rồi một tiếng pháo, như cảnh báo cái chết đang rình rập và bất ngờ có thể chụp xuống bất cứ nơi nào.
Màn đêm đã phủ kín xung quanh. Đất trời ngày Xuân se se rét.
Trong căn lều dã chiến có hai người một già và một trẻ, đang chụm lại cùng tiếng thì thầm to nhỏ.
– Đêm nay sẽ bắt đầu thôi. Không tiến hành ngay thì có khi mất cơ hội đấy. Chưa chắc quân ta đã chiếm được cái thị xã này đâu; có khi còn phải rút sớm đấy. Không còn cơ hội nào tốt hơn đâu á. Cái nỉ vẫn còn nhớ đường chớ?
– Đường đi thì ngộ vẫn nhớ, nhưng chỉ sợ chẳng may lọt vào chỗ quân địch thôi á.
– Không được sợ á. Phải làm thôi. Trăm năm mới có một ngày thôi á.
Tiếng thì thầm bàn bạc là của hai anh em trong dòng họ Hứa. Người anh là sư đoàn trưởng, còn người em họ là một lính mới do người anh động viên nhập ngũ đưa vào đơn vị chưa được ba tháng, nhằm phục vụ cho mục đích của mình. Người em tên là Hứa Tài Hoóng, cái thằng đã coi Việt Nam là Tổ Quốc của mình. Hai anh em họ Hứa chính là hậu duệ 5 đời của Hứa Tử Viên, một tướng tâm phúc của Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh quân Cờ Đen. Đêm nay, hai anh em Hứa sư trưởng rắp tâm thực hiện một việc theo lời truyền lại trong gia phả họ Hứa ở Quảng Đông.
Từ lúc bị ép buộc theo cái sự kiện “nạn kiều” trở về cố quốc, thằng Hoóng và gia đình không được đi nước thứ ba như tính toán ban đầu, mà phải về ở tập trung trong một khu trại tại một nơi xa lạ, xung quanh toàn đồi núi trọc. Khu trại được bao bọc dây kẽm gai và có các chòi gác, lúc nào cũng có lính canh tay lăm lăm súng, mắt gườm gườm, chẳng một chút thân thiện.
Chưa đầy một tháng sau. Một hôm, thằng Hoóng được gọi lên phòng quản lý trại. Ở đây đã có một người ngồi chờ sẵn. Đó là một người cùng họ Hứa với nó.
Hóa ra bằng một cách nào đó mà từ lâu nay người ta đã biết rất rõ về gia đình thằng Hoóng đã nhiều đời sinh sống ở Lạng Sơn. Sau buổi nói chuyện với người họ Hứa, thằng Hoóng được đưa đến gặp người “anh họ” của mình. Đó chính là Hứa sư trưởng. Nó được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Thoạt đầu, khi nghe câu chuyện, nó há hốc miệng và vô cùng kinh ngạc. Khuôn mặt nó tái đi lộ rõ vẻ lo sợ. Nó muốn cất lời từ chối, nhưng rồi không thể không nhận cái nhiệm vụ “hết sức quan trọng” kia được.
Đêm đó, thằng Hoóng trằn trọc mãi không ngủ được. Nó cứ ngổn ngang với bao suy nghĩ miên man. Tâm trạng nó rối bời. Nó lo sợ, rồi có lúc lại cảm thấy có chút day dứt. Ừ nhỉ. Nhà mình đã mấy đời ở Việt Nam, được đất nước ấy cưu mang, chở che. Đấy lại là nơi chôn rau cắt rốn của mình và cả của những người thân trong gia đình, bây giờ như thế này có khác gì trở mặt với người đã từng giúp đỡ mình? Hay là sáng mai tìm cách nói lại với “anh họ” để từ chối? Không được! Không thể được. Nếu từ chối, không làm theo lời ông ta thì cả gia đình mình cũng khó bề yên thân được. Cứ nhìn hai con mắt ông ta khi cảnh báo mình thì họ không phải chỉ dọa không thôi. Mà ông ta bảo sao nhỉ? Nếu thực hiện nhiệm vụ thành công thì mình và cả gia đình sẽ vừa có nhiều tiền, nhiều vàng, rồi muốn đi đến nước nào thì họ cũng giúp đỡ cho đi cơ mà? Hây dà. Phải theo lời họ thôi, không còn con đường nào khác nữa á. Ông ta chẳng đã bảo “thà ta phụ người chứ không được để người phụ ta” đó sao?
Trằn trọc hồi lâu, thằng Hoóng thiếp đi trong giấc ngủ đầy mộng mị; nó thấy mình bị ngập chìm giữa lấp lánh một đống vàng bạc, châu báu khổng lồ.
*
Vào khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ 19, những tàn quân của tổ chức Thiên Địa Hội ở Trung Quốc là đội quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh; đội quân Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị và đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, dạt sang hoạt động mạnh ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam, nhất là các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn. Quân Cờ đen được coi là nhóm quân hoạt động mạnh nhất ở đây. Tuy nhiên khi dạt sang Việt Nam, sự phân hóa của các nhóm quân này thành nhiều khuynh hướng đã gây ra sự căng thẳng ở các tỉnh biên giới. Năm 1868, quân Cờ Trắng tập trung cướp bóc ở châu Lục Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau trận này, vì xung đột về quyền lợi và phạm vi chiếm đóng, quân Cờ Trắng đã bị quân Cờ Đen loại bỏ. Ngay sau đó, Lưu Vĩnh Phúc đã nghĩ đến việc phải nhanh chóng xóa sổ nốt Hoàng Sùng Anh và đội quân Cờ Vàng.
Để loại bỏ tận gốc cánh quân Cờ Vàng, điều cần thiết cho quân Cờ đen là phải có một địa bàn an toàn hoạt động lâu dài. Nhân cơ hội triều Nguyễn dụ hàng, Lưu Vĩnh Phúc đã chấp nhận. Vua Tự Đức ban cho Lưu Vĩnh Phúc làm Đề đốc trấn hạt Thập Lục Châu, cho tự do thu thuế. Trong quá trình hoạt động, quân Cờ đen đã tạo những bước chuẩn bị cần thiết về lực lượng, căn cứ và nhanh chóng loại bỏ quân Cờ vàng. Đến năm 1875, quân Cờ vàng bị quân Cờ đen tiêu diệt hoàn toàn. Từ đây, quân Cờ Đen làm chủ hoàn toàn vùng biên giới, tự thu thuế của cư dân các vùng xung quanh.
Một trong những tướng tâm phúc của Lưu Vĩnh Phúc là Hứa Tử Viên, thống lĩnh cánh quân Cờ Đen tại Lạng Sơn, đã đánh tan đội quân Cờ Vàng trong trận chiến ác liệt bên hồ Phai Loạn; giết gần ngàn quân của Hoàng Sùng Anh, thu về không biết cơ man nào là vàng bạc, châu báu và của cải mà chúng cướp bóc được ở Việt Nam.
Đêm nay, sau trận chiến ác liệt vừa kết thúc, trước khi cho người báo tin đại thắng với Lưu Vĩnh Phúc, Hứa Tử Viên gọi A Lý, tên lính hầu trung thành cũng là đứa con nuôi của mình vào gặp riêng. Đống vàng bạc, châu báu ngồn ngộn kia Hứa không đời nào chịu nộp hết cho họ Lưu, nhưng cũng không thể đem theo ngay lúc này được.
Ngay sáng sớm hôm sau, A Lý đã cùng đoàn năm người và ngựa thồ, chở những gùi nặng được đóng kín như bưng, bí mật rời thành Lạng Sơn. Đoàn người lặng lẽ tiến về dãy núi đá phía Tây. Sau mấy canh giờ vất vả vì đường đi khó khăn, hiểm trở, họ đã tìm đến nơi có một hang đá ẩn sau những bóng cây um tùm, mà nếu như không chú ý thì chẳng ai có thể phát hiện ra. Năm ngoái, trong một lần chinh phạt các bản dân tộc ở vùng này, Hứa đã âm thầm nhòm ngó đến nơi đây với ý đồ sâu xa và đặt cho cái hang bí mật kia tên gọi là Sầu Quỷ Cốc.
Cứ như vậy, suốt một tuần liền, cứ mỗi sáng sớm A Lý lại dẫn một đoàn năm người và ngựa thồ đi, nhưng khi đến đêm chỉ còn một mình A Lý trở về.
Đến ngày thứ tám cũng là ngày cuối cùng, đích thân Hứa Tử Viên đi cùng.
Khi đã ở trong hang, tận tay kiểm tra 100 gùi hàng được đóng chắc chắn, vẫn còn nguyên vẹn dấu si do tự tay mình gắn, được xếp gọn gàng trong một ngách sâu cuối hang, Hứa Tử Viên tỏ ý hài lòng lắm. Trong khi đó A Lý đốc thúc năm tên lính vần đá bít kín ngách hang một cách chắc chắn. Họ dùng mật mía và vôi bột đem theo hòa thành thứ vữa sền sệt; đích tay A Lý lấy từ trong túi đeo bên người một lọ bột mầu vàng có mùi hăng hắc, rồi đổ vào thứ vữa kia, trộn đều cùng những mảnh thủy tinh đã được đập vụn. Xong xuôi đâu đấy, năm người lính dùng những muỗng gỗ vẩy thứ vữa kia vào các khe của bức vách hang vừa được bít kín.
– Các ngươi làm khá lắm. Ta sẽ trọng thưởng, còn bây giờ A Lý hãy bày rượu quý, thịt ngon ra để anh em cùng mừng công việc đã hoàn thành. – Hứa Tử Viên nói.
Cả năm tên lính dạ ran và cùng ngồi xuống nền hang, đón lấy mỗi tên một cái đùi gà béo ngậy và bát rượu sóng sánh từ tay A Lý. Cả bọn ăn uống hể hả, cùng bàn tán về món bạc thưởng sẽ được nhận khi trở về. Khi mâm thịt gà vẫn còn chưa vơi, cả năm tên lính bỗng lần lượt đờ người ra rồi trợn mắt sùi bọt mép, như á khẩu không nói được một lời.
Ngay ngày hôm sau, hai thầy trò Hứa Tử Viên tìm đến bên một ngôi miếu cổ nằm trên một gò đất vắng vẻ, cách hồ Phai Loạn vài dặm về phía Tây Nam.
– Nghĩa phụ à, ngộ không piết sao nghĩa phụ lại cho chôn tấm bản đồ ở cái miếu hoang này mà không phải ở chỗ khác cho dễ tìm á?
– Ngươi không biết sao? Chùa miếu là nơi bất di bất dịch, dễ tìm, lại là chỗ người ta thường đến cúng lễ mà không sợ bị để ý. Nhưng chùa to thì lắm người tìm, ta đã để ý đến ngôi miếu nhỏ này từ mấy bữa trước rồi.
– Hây dà. Ngộ hiểu rồi, hiểu rồi. Nghĩa phụ quả là tính toán như thần á.
– Thôi, ngươi hãy mau bắt tay vào việc đi cho kịp.
A Lý hăm hở bước từ chính giữa góc miếu bên phải đúng mười bước lên phía trước, rồi dừng lại và bắt đầu đào đất thành một hố sâu năm thước. Chừng nửa canh giờ sau, A Lý hai tay nâng chiếc chum nhỏ, trong có ống tre giấu tấm bản đồ vào hang Quỷ Sầu, được đổ đầy chè khô, nắp gắn bằng mật mía và vôi bột, rồi lấp đất kín.
Xong xuôi hai người nhanh chóng lên ngựa trở về doanh trại.
Ngay đêm đó A Lý bỗng nhiên bị lên một cơn co giật, không cứu nổi mạng mà chẳng ai hiểu nguyên nhân vì sao?
*
Quá nửa đêm hôm đó, Hứa sư trưởng được Hứa Tài Hoóng dẫn đường tìm đến ngôi miếu nhỏ. Cả hai lặng lẽ lần mò đi trong đêm tối. Thỉnh thoảng họ lại ngoái lại phía sau xem có ai đi theo không.
Mãi đến tận 4h sáng, sau một hồi phải chui lủi, vòng vèo qua nhiều quãng đường khác nhau, cả hai mới đến được ngôi miếu nhỏ. Thằng Hoóng dùng chiếc xẻng quân dụng mang theo và bắt đầu đào. Trời sáng dần. Đang lúc còn rét mà mồ hôi ướt đầm lưng áo thằng Hoóng. Nó vẫn hì hụi đào. May quá, đúng chỗ đất xốp rỗng giúp nó đào dễ hơn. Nó lấy hết sức đào. Một tiếng cạch khô khốc và miệng chum vỡ ra. Nó reo lên khe khẽ:
– Đây rồi!
Thằng Hoóng phấn khích thò ngay tay vào định lôi cái chum nhỏ thì bỗng “bụp” một tiếng. Nó khiếp đảm rú lên và rút vội cánh tay ra khỏi miệng hố vừa khoét, kéo theo một con rắn hổ đất đen sì, to cỡ bắp tay người lớn, miệng vẫn đang ngoạm vào tay. Thằng Hoóng hoảng hốt giãy tay làm con rắn văng ra, nhanh chóng mất hút vào bụi cây gần đó. Nó ngã vật ra đất, mắt trợn trừng, mồm ngáp ngáp mấy cái rồi lịm đi.
Hứa sư trưởng sững sờ, bàng hoàng đứng ngây ra như trời trồng. Phải đến mấy phút sau gã mới định thần lại và hiểu được tình hình. Hất xác thằng em họ, mặc cho nó lăn xuống phía dưới chân gò, rồi chọn chỗ đứng chắc chắn, gã cầm chiếc xẻng đập mạnh vào miệng chum đã vỡ, thận trọng thò tay rút lấy cái ống tre. Hứa sư trưởng vội vàng cậy cái nắp gắn si rồi lấy ra tờ giấy vải đã chuyển sang mầu xám xịt, có những hình vẽ loằng ngoằng. Tấm bản đồ cần tìm đây rồi! Đôi mắt gã sáng lên, lấp lánh niềm vui sướng tột độ, chợt trợn tròn mắt sợ hãi, miệng há hốc không nói được một câu khi ngay giữa bụi dâm bụt phía trước cách không xa có một nòng AK đang hướng thẳng vào gã.
Nòng AK ấy không của ai khác chính là của tên lính cần vụ của Hứa sư trưởng.
– Hứa sư trưởng à. Tối qua ngộ pất chợt nghe được cuộc nói chuyện của hai anh em ông nên ngộ mới piết mà theo á. Nhà ngộ nghèo nên ngộ mới đi bộ đội để có nhiều tiền. Liệu Hứa sư trưởng có chịu chia cho ngộ một phần cái khối của cải kia không á?
– Mi… mi … mi… dám… dám… – Hứa sư trưởng lắp bắp chưa hết câu thì cả tràng AK xối xả làm gã bật người lên giãy giãy rồi đổ ập xuống miệng hố có chiếc chum nhỏ.
Mùi thuốc súng chưa tan, tên lính vội phóng ngay đến bên xác thằng chỉ huy. Tay cầm lấy tấm bản đồ, huơ huơ đầy phấn khích “Hảo lớ! Hảo lớ!”. Nó sung sướng không tả nổi khi bỗng dưng lại có trong tay cái bí mật của một kho báu chắc hẳn phải lớn lắm. Đêm qua khi đến lán tên chỉ huy và nghe được câu chuyện; từ sửng sốt đến bất ngờ rồi sau phút thần mặt ra, nó đã rắp tâm phải bám theo để may ra cũng ăn hôi được chút gì; ai ngờ ông trời lại hào phóng với nó đến thế. Bây giờ thì nhà nó sẽ giầu to. Nó sẽ làm ông chủ chứ không còn phải đi lính để có đồng tiền còm cõi như thế này nữa.
Nó như mê đi trong giấc mơ vàng bạc, châu báu…
Vừa lúc bỗng chíu… ùng…!
Một quả đạn pháo bất ngờ phá tan cái tĩnh mịch của buổi sớm mai, rơi vào chính ngay cái hố có chiếc chum nhỏ. Đất cát, cây cối, thằng chỉ huy và tên lính cùng tấm bản đồ trong tay bị tung lên cao rồi lả tả đổ ụp xuống, nhầy nhụa và lẫn lộn.
Tiếng pháo của bọn Tầu từ bên kia biên giới bắt đầu từng chập nã vào thị xã.
Viết 23-24/02/2021
* Truyện đã đăng trên báo Văn Nghệ số 12 ngày 20/3/2021