Chuyện sông, chuyện đời trong tập bút ký “Nghe phù sa kể chuyện tình châu thổ” của Trương Thị Thương Huyền

 

Mỗi dòng sông đều có số phận riêng. Đời sông cũng như đời người, biết bao thăng trầm dâu bể, bao niềm thương nỗi nhớ…”. Trương Thị Thương Huyền viết thế trong tập bút ký Nghe phù sa kể chuyện tình châu thổ – NXB Quân đội Nhân dân, năm 2025. Kể chuyện về sông cũng là kể chuyện đời người. Đức tính của người Việt Nam là hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó, là nhân ái và trọng nghĩa tình. Giống như những dòng sông “Miệt mài lập dòng, chắt nước từ những khe suối nhỏ trong ruột đá…” Câu chữ này không chỉ dành riêng cho dòng Thương mà còn cho tất cả các dòng sông chảy trên đất Việt. “Về nghe dòng Thương kể chuyện”

“Gió Lũng Pô thổi dọc sông Hồng” là bài mở đầu cho tập bút ký. Sông Hồng còn được gọi là sông mẹ (sông Cái), bởi nó miệt mải chảy trên đất Việt, mang phù sa bồi đắp nên châu thổ phì nhiêu, là hồn vía, là nơi gìn giữ những trang sử lặng thầm về cội nguồn, về cả những hưng thịnh, những máu xương của bao thế hệ người Việt Nam. Cột mốc 92, điểm đầu tiên con sông Hồng “chồ” vào đất Việt, những thông tin này hẳn mọi người đều biết nhưng ngoài những chiến sỹ biên phòng và người dân bản địa thì có mấy ai để lá lau cứa ngang mặt, lội cỏ dại mà xuống tận nơi, chạm tay vào cột mốc, được tận mắt thấy nơi nước sông mang hai màu nâu đỏ và xanh dương. Với Thương Huyền, cột mốc ấy có ma lực gì mà chị không nhớ nổi lần thứ bao nhiêu đã xuống tận nơi, quỳ ôm cái cột mốc đường biên mang số thứ tự 92 này. Cái ma lực ấy chỉ có ở con người “chuyện gì cũng muốn biết”. Viết văn là vậy, cái gì “cũng muốn biết” và muốn gửi tình cảm của mình vào cái “biết” ấy.

Đang “cuồn cuộn trôi, sao gọi sông Bằng”, một địa danh ám ảnh và vấn vương, lôi cuốn bao văn nghệ sĩ về đây … “Thì ta tới Cao Bằng/ Cao Bằng, rõ thật cao/ Rồi dần dần bằng xuống” … (thơ Trúc Thông). Còn Thương Huyền đến với sông Bằng để ngồi nhâm nhi sử cũ mà nhớ ơn gây dựng từ xưa, nơi dòng thiêng của vùng đất Mục Mã, nơi có thế đất cao là thế đất rất hiểm yếu để nhà Mạc xây thành đắp luỹ. Đến với Cao bằng bởi sự choáng ngợp trước vẻ tươi mới của thành phố trẻ trung, phồn thịnh, trong vòng ôm của sông Bằng, sông Hiến với núi đá muôn trùng bao bọc xung quanh tạo thành bức tranh sơn thuỷ từ thiên nhiên. “Ba mặt tam giang trôi cuồn cuộn/ Bốn bề tứ trụ đứng chon von” (thơ Hoàng Đức Triều). Đến với Bằng Giang nơi có các thắng cảnh đẹp được thiên nhiên ban tặng, các di tích lịch sử như Cốc Pó, thác Bản Giốc… Đến vì nơi đây có sự đa dạng về bản sắc dân tộc, cùng vô vàn làn điệu dân ca truyền thống, cùng những nghi lễ của đồng bào. Đến để rồi khi trở về vẫn còn vẫn khắc khoải câu hỏi, cứ cuồn cuộn chảy thế sao gọi sông Bằng.

Tạm rời xa con sông gắn bó nơi quê nhà, bước chân của nhà văn ngược dòng tìm đến đầu nguồn con sông khác, con sông mang tên sông Mã. Trong bài ký “Chênh chao cầu nơi đầu nguồn sông Mã” Thương Huyền tâm sự: “Đi đã nhiều nơi, đã không ít lần ngắm các dòng sông, nhưng chưa khi nào tôi thấy bâng khuâng nhiều như khi ngắm sông Mã chiều về nơi biên giới trên mảnh đất thuộc thị trấn Sông Mã (huyện Sông Mã – Tỉnh Sơn La) . Bởi, dòng sông đã khiến thi nhân bao đời thổn thức. Bởi, cuộc sống đang hiện hữu của người dân nơi này. Cuộc đời của người dân nơi đây gắn liền với những chiếc cầu treo chênh chao hay những chiếc cầu phao làm bằng thùng phuy lênh đênh hay những chiếc cầu tre lắc lẻo. Nhưng người dân nơi đây vốn dĩ hiền lành, nhẫn nại, chân chất, cõng trên lưng sản vật được kết lại bởi mồ hôi và phù sa sông Mã thì bước chân của họ luôn vững chãi, không hề chênh chao cho dù hàng ngày vẫn phải đi trên những cây cầu dập dềnh như nhịp võng đưa.

Lại một “cây vía” nữa hút hồn Thương Huyền, khiến cho bước chân của nhà văn lặn lội vào tận xứ Nẫu – Phú Yên. Đến với Phú Yên phải đến sông Kỳ Lộ, con sông lớn thứ hai ở xứ này. Kỳ Lộ cái tên lần đầu nghe thấy “kỳ kỳ”, “lạ lạ”, nó không chỉ là dòng nước sự sống, dòng đắp bồi phù sa mà còn là dòng trầm tích văn hoá sống của các tộc người, của các tầng bậc thang thời gian từ điểm khởi phát đến phía hạ du. Đến Phú Yên được gặp ngọn gió Nam Cồ khô khốc, hanh hao, mịt mù bụi đỏ, luộc chín lá non trên đọt cây bằng sức nóng, gào thét từng hồi không ngớt, lại còn tiện thể nhấc bổng hai chân sau của con bò đang “tế” theo bầy mới thấy hết cực nhọc của người dân nơi đây. Gió Nam Cồ và sông Kỳ Lộ như một hương vị rất riêng góp phần hun đúc, luyện rèn nên tính cách nhẫn nại, kiên gan, bền bỉ, cần cù, chân chất của con người xứ Nẫu. Thương cho ngọn gió Nam Cồ.

Mê mải với những hành trình xuôi ngược cuộc đời nhưng quê nhà vẫn là nơi níu kéo thân xác ta trở về, cho tâm hồn được an yên. Rồi đến một ngày, Thương Huyền nhận ra con sông Cửu An hay Cửu Yên xa xưa chảy qua quê mình – Thanh Miện, Hải Dương là một trong số những con sông được khắc trên Cửu đỉnh ở Kinh thành Huế với tên chữ “Cửu Yên hà”. Vinh dự này là sự ghi công một thành tựu của người dân Việt chinh phục thiên nhiên. Từ một dòng sông nhỏ, với độ dài không lớn, qua các triều đại cùng tầm nhìn chiến lược của những nhà quản lý, Cửu An đã khơi nguồn mở rộng, kéo dài kết nối thông thương với các dòng chảy khác để phục vụ cuộc sống dân sinh.

Sông Tranh, dòng chảy của truyền thuyết. Nó là một khúc của con sông Luộc – một dòng chảy lớn mà con sông Hồng đổ xuống từ Hưng Yên vào Hải Dương, chảy quanh làng Tranh Xuyên nên gọi sông Tranh. Về với sông Tranh phải đến đền Tranh, nơi quen thuộc với những người yêu hát văn hầu đồng của tục thờ Đạo Mẫu. Những câu hát văn vấn vít dẫn dụ người nghe tìm về truyền thuyết quan lớn Tuần Tranh – một trong những vị thần hoàng có sức sống lan toả, bền lâu trong đời sống tâm linh văn hoá người Việt. “Loa đồng hỏi nước sông Tranh/ Long đao cứu nước, anh hùng là ai?/ Sông Tranh đáp tiếng trả lời/ Có Quan đệ ngũ, chính người Ninh Giang”.

Đến với Xứ Đông là phải thưởng thức hương vị rất riêng của loại trái cây “Dẫu vỏ ngoài chẳng xấu, vẫn xù xì thô ráp giữa lòng tay”, mà đậm duyên như người đàn bà quanh năm tất bật với vải, với vườn, với tấm khăn che kín gương mặt nhưng ánh mắt vẫn cười vẫn níu buộc đầy quyến rũ. Trái vải thiều ngọt ngào, trái cây tiến vua một thuở. Nhưng để cảm nhận đằm sâu hơn nữa phải hoà mình cùng dòng Hương giăng mắc chảy giữa đất Thanh Hà. Đây không phải Hương Giang của “dạ thưa xứ Huế”, tên xưa là Cam Giang, gọi nôm là sông Côm, nó mang trên mình huyền tích về Nhị tổ Pháp Loa – đệ nhị Thiền phái Trúc Lâm và những câu chuyện dân gian như “Đầu Mè, đuôi Úc, giữa khúc Lục Lăng”… để nói về sự kết nối của dòng sông này tạo nên vùng trồng cây ăn quả giàu có, phong vị rất riêng của xứ “Con mẹ con cha”.

 “Đi để biết, để hiểu và khắc ghi dấu ấn về mảnh đất biên giới yêu thương của Tổ quốc” Trương Thị Thương Huyền đi bằng tâm thế như vậy. Bước chân của chị qua những con sông lịch sử, rồi lên với “Xuân nơi đỉnh trời Lũng Cú” – điểm cực Bắc của Tổ quốc, đến “Sống chậm với người Mông ở Hồng Ngải”, “Kìa Cồn Cỏ” – chiến hạm xanh nằm phía ngoài khơi Quảng Trị cũng níu bước chân, tới tận Lý Sơn lắng nghe “Khi sóng hát mãi về những hùng binh”. “Chợ thôi phiên” khiến bạn đọc hoài cổ bằng những câu thoại dân dã, cảnh sắc thanh bình. “phiên chợ mà người bán chỉ lấy vui và người mua thấy nhẹ lòng”. Đi tới đâu chị cũng đào xới cùng kiệt vùng đất đó, không chỉ về thiên nhiên, sự hình thành tầng lịch sử của vùng đất đó mà còn cả về những tập quán riêng, cũng như tận cùng từng ngóc ngách trong đời sống thường ngày của người dân bản địa, để rồi tãi bày tình cảm của mình lên trang viết. Và trái tim không phải chế tác từ nhựa cứng, chính vì vậy tình cảm thương yêu của chị không chỉ dành cho những con người xả thân trên trận tiền mà còn cho cả những con người yếu thế trong xã hội như người công nhân quét rác hàng ngày “Nhọc nhằn nhịp chổi tre”, người bốc mộ thuê khắc khoải “Gió cứ nói điều gì … xa lắm!”… Họ là những con người lao động vì sự hưng thịnh của đất nước.

Theo nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa, bút ký văn học thuyết phục người đọc phải giàu hàm lượng văn học, tích hợp trải nghiệm văn hoá, mang đến cho người đọc những thông tin mới mẻ bất ngờ, kích hoạt khoái cảm được đi, trải nghiệm thưởng lãm muôn màu cuộc sống. Nghe phù sa kể chuyện tình châu thổ, tập bút ký tích hợp hài hoà giữa lượng thông tin báo chí với văn học, nghệ thuật ngôn từ. Thương Huyền thường tập trung khai thác vỉa tầng lịch sử, tìm ra những đặc trưng rất riêng vùng miền khiến cho bạn đọc dù chưa đến nhưng vẫn hiểu sâu về vùng đất ấy.

Cho đến nay, mọi con sông vẫn chảy, sẽ chảy không ngừng, những phiên chợ thôi phiên không thể mất và không chỉ những ngọn gió khi ồ ồ thổi mới hiểu nỗi lòng của “nghề bốc mộ thuê” khi đọc xong tập bút ký Nghe phù sa kể chuyện tình châu thổ. Tôi muốn được đi, được trải nghiệm để thưởng lãm sắc màu cuộc sống.

 

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder