
Kha Tiệm Ly tên thật là Thái Quốc Tế, sinh năm 1950 tại Định Tường, hiện sống ở Mỹ Tho. Trước 4/1975, ông là giáo sư quốc văn, Hán văn. Ông viết thơ từ thời trung học, đã có nhiều bài thơ hay đăng trên các báo và được ngâm trên chương trình Thơ của Hồng Vân, Đài phát thanh Sài Gòn…Hiện tại ông tham gia nhiều trang Web văn chương, viết TLĐ, các bài phú và câu đối được độc giả yêu thích

Kha Tiệm Ly tên thật là Thái Quốc Tế, sinh năm 1950 tại Định Tường, hiện sống ở Mỹ Tho. Trước 4/1975, ông là giáo sư quốc văn, Hán văn. Ông viết thơ từ thời trung học, đã có nhiều bài thơ hay đăng trên các báo và được ngâm trên chương trình Thơ của Hồng Vân, Đài phát thanh Sài Gòn. Hiện tại ông tham gia nhiều trang Web văn chương, viết TLĐ, các bài phú và câu đối được độc giả yêu thích
VỊNH CON TÔM HÙM.
Ngang dọc vẫy vùng dưới biển sâu,
Giáo gươm, giáp trụ kém ai đâu!
Mỉa mai cho chữ “hùm” oanh liệt,
Mà mãi khòm lưng, cứt lộn đầu!
VỊNH CON DIỀU GIẤY.
Nương gió tung mình tận đỉnh mây
Trên cao trông xuống thế gian nầy
Tưởng mình là nhất trong thiên hạ
Quên hẳn vẫn còn kẻ giựt dây!
VỊNH TRÁI CHANH
Sung sức tròn vo, dáng bóng ngời
Xả thân vắt nước hiến cho người
Đến khi cạn kiệt, thân vô dụng
Cũng bị quăng vào sọt rác thôi!
VỊNH CÁI GHẾ
Bốn chân chạm đất đã quen rồi
Sơn phết càng thêm lố bịch thôi
Mặt cứ nhìn lên, không ngó xuống
Khổ thay suốt kiếp đội trôn người!
NHỚ VỢ (1)
Mấy chục năm rồi mới ngỡ đây,
Đèn khuya dầu cạn lại châm đầy.
Áo mang kỉ niệm hơi còn ấm,
Ảnh phủ thời gian má vẫn hây!
Nửa kiếp vắng mình, bao nỗi nhớ,
Suốt đêm cùng rượu, mấy cơn say?
Bỗng thèm môi mọng em mồi thuốc,
Lặng lẽ trên bàn hương khói bay!
NHỚ VỢ (2).
Trăng đâu lạc bước ngó qua song,
Thấy chỉ mình ta, có thẹn thùng?
Đâu phải lò hương xưa nhợt nhạt,
Mà sao hơi gió lạnh vô cùng!
Gối phai mùi tóc, không phai nhớ,
Áo thiếu hơi em, chẳng thiếu nồng!
Úp mặt, ngỡ ngàng măn vú gối,
Bên ngoài trời đã dợm sang đông.
VÒNG VINH NHỤC.
Tóc gội mưa dầu nhợt nhạt phai,
Mấy phen úa lá, tả tơi đài.
Trường đời lố nhố tranh cao thấp,
Đường thế chông chênh bước ngắn dài!
Nếm lợi, lưỡi tê mùi khổ ải,
Cầu danh, mắt cạn lệ trần ai!
Sượng sùng son phấn bôi lên mặt,
Nửa vẽ vai bi, nửa vẽ hài!
BIỆT LY
Sỏi đá xa rồi cũng nhớ nhau,
Sông buồn ai khéo vét thêm sâu?
Một làn má phấn bao mùi nhớ,
Nửa sóng thu ba mấy cuộc sầu!
Nắng hạ vừa nhom hoa phượng thắm,
Cây rừng vội thúc tiếng ve đau!
Em về mang cả hồn ta đó,
Còn để làm chi mấy hạt châu?
VỊNH THẦN BẾP
Sình đất khi xưa phải cậy người
Lên thần một bước dễ như chơi!
Cái đầu cong tợ lưng tôm sú,
Bản mặt đen hơn đít lọ nồi!
Công, tội nào hay trong sớ Táo,
Ngay, gian chỉ biết hỏi ông Trời!
Thương cho đến lúc không còn sức,
Gốc gáo bờ cây lủ khủ ngồi!
NGÀY LỄ VIẾNG CHÙA
Chỗ chay đàn, chỗ kết hoa tươi
Đến đó dù buồn cũng thấy vui
Con Phật mươi bàn no bể bụng
Ăn mày một đám đói xanh môi!
Chứng thành Chánh Giác bằng muôn cách*
Về đến Tây Thiên được mấy người?
Quỳ lạy sói đầu, trơ mảng đít,
Không tin thì cứ lại mà coi!
ĐÊM NGHE DẠ CỔ HOÀI LANG
Theo gió, đàn ai réo rắc sang
Nghe chừng bài Dạ Cổ Hoài Lang
Yên cương vạn dậm chàng tung vó
Gốc liễu trăm năm thiếp đợi chàng
Bầu lắng tiếng “hò” đành rụng rún
Chim nghe nhịp “cống” vội ra ràng
Bâng khuâng khách lắng hồn trăng cũ
Tiếng trống cầm canh điểm nhặt khoan.
VIẾNG NÚI BÀ TÂY NINH
Ngàn dặm uy linh tiếng tỏa xa,
Núi non như dệt gấm, thêu hoa.
Ngoài sân hương khói bong hai mắt,
Trong cốc tiên nương ngự một tòa.
Trên án ê hề mâm ngũ quả,
Dưới thềm ngồn ngộn đít trăm bà!
Cầu xin cũng phải lo quà cáp,
Trong giới thánh thần cũng thế a?
LỜI CHÍNH KHÍ
Không cam lòng sống kiếp tôi đòi
Thà cổ bị lìa, hơn chết toi.
Bởi Đá Bạc bầm mình hứng lửa,
Nên Hoàng Sa Nộ Khí xung trời.
Một bào cha mẹ, chung hòn máu,
Mười vạn anh em, rặt giống nòi.
Muôn lạch đều xuôi về biển lớn,
Trăm non mãi mãi vẫn cao vời
HÁT TUỒNG
Mấy thằng mặt trắng, mấy thằng đen
Đứa thấp đứa cao có mấy quèn.
Mão ốp tai, BỊT lời phải trái.
Râu che mồm, táp miếng chê khen
Vợ lên vai mẹ, đâu còn lạ,
Con chửi thằng cha, riết cũng quen!
Xiêm áo mập mờ ôm bộ vó
Phấn son sao gột lớp chân phèn!
K.T.L